Đồng chí Hà Huy Tập - Người chiến sĩ tiên phong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong những năm đầu cách mạng Việt Nam
24/04/2026 04:39
Những năm đầu sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là chặng đường thử thách đặc biệt khốc liệt của cách mạng Việt Nam, khi tổ chức Đảng bị khủng bố, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống, tư tưởng trong một bộ phận đảng viên cộng sản xuất hiện những biểu hiện dao động, lệch lạc. Trong hoàn cảnh ấy, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng – chủ nghĩa Mác – Lênin – trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định sự tồn vong của cách mạng...
ThS. Cao Thị Thu Huyền
Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

Đồng chí Hà Huy Tập (1906 - 1941)
Tóm tắt: Trong những năm tháng cam go nhất của cách mạng Việt Nam, khi tổ chức Đảng bị khủng bố, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống, đồng chí Hà Huy Tập đã khẳng định tầm vóc của một nhà lãnh đạo kiên trung, một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, kiên định bảo vệ và phát triển nền tảng lý luận của Đảng, góp phần giữ vững phương hướng cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh không gian mạng trở thành trận địa tư tưởng mới, việc phát huy giá trị tư tưởng và tấm gương của đồng chí, gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị và tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là mệnh lệnh thực tiễn nhằm giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ khóa: đồng chí Hà Huy Tập; người chiến sĩ tiên phong; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; những ngày đầu của cách mạng.
Những năm đầu sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là chặng đường thử thách đặc biệt khốc liệt của cách mạng Việt Nam, khi tổ chức Đảng bị khủng bố, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống, tư tưởng trong một bộ phận đảng viên cộng sản xuất hiện những biểu hiện dao động, lệch lạc. Trong hoàn cảnh ấy, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng – chủ nghĩa Mác – Lênin – trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định sự tồn vong của cách mạng. Chính trong bối cảnh cam go đó, lịch sử đã ghi dấu sự xuất hiện và cống hiến nổi bật của đồng chí Hà Huy Tập – người con ưu tú của quê hương Hà Tĩnh giàu truyền thống cách mạng. Được hun đúc từ mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, đồng chí sớm hình thành bản lĩnh chính trị kiên cường, tư duy lý luận sắc bén và ý chí dấn thân trọn đời vì lý tưởng cách mạng. Trên cương vị Tổng Bí thư (1936–1938), đồng chí đã trở thành chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, kiên định bảo vệ, đồng thời phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, góp phần quan trọng đưa cách mạng vượt qua khủng hoảng, giữ vững phương hướng phát triển.
Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của đồng chí (24/4/1906–24/4/2026), việc nhìn lại và khẳng định những đóng góp to lớn của đồng chí Hà Huy Tập không chỉ là sự tri ân đối với một nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, mà còn góp phần tiếp tục khơi dậy, lan tỏa giá trị bền vững của tinh thần kiên trung, bản lĩnh và trí tuệ cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
1. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng là yêu cầu cấp thiết ngay từ những ngày đầu của cách mạng
Ngay từ khi thành lập đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Đây không chỉ là hệ thống lý luận khoa học phản ánh quy luật vận động của lịch sử, mà còn là vũ khí tư tưởng sắc bén, định hướng cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đi đúng quỹ đạo cách mạng vô sản.
Đồng thời, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng Cộng sản Việt Nam. Thống nhất tư tưởng tạo nên thống nhất tổ chức, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, bị đàn áp khốc liệt. Thực tiễn chứng minh: tư tưởng dao động thì tổ chức phân hóa, phong trào suy yếu. Chính sự kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin giữ vững bản chất giai cấp công nhân, ngăn ngừa mọi xu hướng cải lương, thỏa hiệp, bảo đảm lập trường cách mạng triệt để hướng tới giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.
Thực tiễn lịch sử những năm 1930–1938 đặt ra yêu cầu đặc biệt cấp bách phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sau cao trào 1930–1931 với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng, làm tổ chức Đảng tổn thất nặng nề, hệ thống lãnh đạo phân tán, suy yếu. Đến năm 1934, dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài được thành lập để khôi phục lãnh đạo, nhưng trong điều kiện vô cùng khó khăn, đòi hỏi cấp thiết phải nhanh chóng củng cố, thống nhất lại về tư tưởng và đường lối.
Trong bối cảnh tổ chức Đảng bị tổn thất nặng nề, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống, trên mặt trận tư tưởng đã xuất hiện những lệch lạc nguy hiểm. Một bộ phận rơi vào “tả khuynh” giáo điều, nóng vội, máy móc; bộ phận khác lại “hữu khuynh”, dao động, thỏa hiệp, suy giảm ý chí đấu tranh, xa rời mục tiêu cách mạng. Đặc biệt, các phần tử Tờ-rốt-kít gia tăng hoạt động, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gieo rắc hoài nghi, kích động chia rẽ, làm suy yếu khối đoàn kết và đe dọa trực tiếp sức chiến đấu của phong trào cách mạng.
Cùng với đó, thực dân Pháp và các thế lực phản động đã đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, sử dụng báo chí, tuyên truyền và các biện pháp đàn áp tinh vi để chống phá Đảng trên mặt trận tư tưởng. Chúng ra sức bóp méo bản chất cách mạng của Đảng, kích động tâm lý hoang mang trong quần chúng, từng bước làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với phong trào cách mạng. Những tác động đa chiều đó không chỉ làm rối loạn đời sống tư tưởng, mà còn trực tiếp đe dọa sự ổn định, thống nhất và thậm chí là sự tồn tại của tổ chức Đảng trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này.
Chính trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, yêu cầu giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ dừng lại ở đấu tranh chống các quan điểm sai trái, mà còn gắn liền với nhiệm vụ củng cố tổ chức, khôi phục hệ thống lãnh đạo và định hướng lại đường lối cách mạng cho phù hợp với tình hình mới. Đây vừa là thử thách trực tiếp đối với phẩm chất, năng lực và bản lĩnh chính trị của Đảng, đồng thời đây cũng chính là điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam vượt qua giai đoạn khủng hoảng, từng bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.
2. Đồng chí Hà Huy Tập – người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong bối cảnh 1931–1934, khi tổ chức đảng bị tổn thất nặng nề, hệ thống gần như tê liệt, phong trào tạm lắng, vấn đề giữ vững nền tảng tư tưởng trở thành yêu cầu sống còn. Chính trong hoàn cảnh ấy, đồng chí Hà Huy Tập đã nổi lên như chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng – lý luận, kiên định tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, coi đó là trụ cột bảo đảm sự tồn tại và phát triển của Đảng. Trước những lệch lạc tư tưởng, đồng chí đấu tranh sắc bén, tiêu biểu qua tác phẩm “Đảng Cộng sản Đông Dương đứng trước chủ nghĩa cải lương quốc gia” (1937), vạch rõ nguy cơ thỏa hiệp, đồng thời khẳng định lập trường cách mạng triệt để. Đồng chí cũng kiên quyết phê phán các phần tử Tờ-rốt-kít, chỉ rõ bản chất xuyên tạc, chống phá đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và vai trò lãnh đạo của Đảng. Những hoạt động đó góp phần giữ vững tính khoa học, tính chiến đấu và sự trong sáng của hệ tư tưởng Đảng trong thời điểm đầy biến động.
Không chỉ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập còn có đóng góp quan trọng trong phát triển và truyền bá lý luận cách mạng. Trong thời gian hoạt động tại Liên Xô (1934–1936), được đào tạo tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí tiếp thu sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm phong trào cộng sản quốc tế. Trở về nước, đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư (7/1936), đồng chí trực tiếp chỉ đạo công tác lý luận, tham gia biên tập Tạp chí Bôn-sê-vích – cơ quan lý luận của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đặc biệt, tác phẩm “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương” đã bước đầu hệ thống hóa lịch sử, tổng kết thực tiễn đấu tranh, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên. Qua đó, lý luận cách mạng không chỉ được củng cố trong nội bộ mà còn trở thành vũ khí sắc bén để đấu tranh với các quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bìa cuốn sách Tờ-rốt-kít và phản cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập viết mang bút danh Thanh Hương (1937).
Điểm nổi bật trong tư duy của đồng chí Hà Huy Tập là luôn gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng với xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn. Tại Đại hội I của Đảng (1935), đồng chí đã đóng góp rất quan trọng trong việc chuẩn bị văn kiện, khôi phục hệ thống lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương sau thời kỳ khủng bố. Đặc biệt, giai đoạn 1936–1939, dưới sự chỉ đạo của Trung ương do đồng chí đứng đầu, Đảng đề ra chủ trương đấu tranh dân sinh, dân chủ, thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương – sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, khắc phục khuynh hướng “tả khuynh” nóng vội. Thực tiễn khẳng định: bảo vệ nền tảng tư tưởng không phải là giáo điều, mà là phát triển lý luận gắn với thực tiễn, từ đó định hướng đúng đắn con đường cách mạng.
Cùng với đó, đồng chí Hà Huy Tập đặc biệt chú trọng củng cố tổ chức Đảng trên nền tảng thống nhất tư tưởng. Sau khi Ban Chỉ huy ở ngoài được thành lập (1934) và Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương (1935) khôi phục hệ thống Trung ương, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo từng bước chấn chỉnh, phục hồi hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở. Việc khôi phục các xứ ủy, gây dựng lại cơ sở Đảng, đồng thời đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ và kỷ luật nghiêm minh đã tạo nền tảng để Đảng ổn định và phát triển. Thực tiễn khẳng định: thống nhất tư tưởng là cội nguồn của thống nhất tổ chức, từ đó hồi sinh và thúc đẩy phong trào cách mạng sau những năm đầu thập niên 1930.
Đồng thời, với vai trò là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập gắn chặt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng với phát triển phong trào quần chúng. Trong cao trào dân chủ 1936–1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, các hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp lan rộng, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Thông qua báo chí công khai như Dân Chúng, Tin Tức, cùng hệ thống tổ chức quần chúng và Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tư tưởng cách mạng được truyền bá sâu rộng, nâng cao nhận thức chính trị của nhân dân. Nhờ đó, nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được củng cố trong nội bộ mà còn thấm sâu vào quần chúng, trở thành niềm tin và động lực mạnh mẽ của phong trào cách mạng.
Từ những hoạt động thực tiễn phong phú và có chiều sâu đó có thể khẳng định, đồng chí Hà Huy Tập không chỉ là người kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là người tiên phong mở rộng trận địa tư tưởng, biến lý luận cách mạng thành sức mạnh trong phong trào đấu tranh. Đây chính là dấu ấn nổi bật thể hiện tầm vóc của một nhà lãnh đạo lý luận xuất sắc trong buổi đầu đầy thử thách của cách mạng Việt Nam.
3. Vận dụng những bài học từ hoạt động lý luận và thực tiễn của đồng chí Hà Huy Tập trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã bước sang một giai đoạn mới – rộng hơn về không gian, tinh vi hơn về phương thức, gay gắt hơn về tính chất. Không gian mạng trở thành “trận địa trung tâm”, nơi các quan điểm sai trái, thù địch lan truyền nhanh, đa chiều và có chủ đích, lợi dụng những vấn đề nhạy cảm để xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng không còn chỉ là nhiệm vụ thường xuyên, mà là mệnh lệnh cấp thiết của thực tiễn, được khẳng định rõ trong Bộ Chính trị qua Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới,
Trong dòng chảy đó, bài học từ đồng chí Hà Huy Tập vẫn mang giá trị định hướng sâu sắc. Trước hết là sự kiên định tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng. Cùng với đó là yêu cầu nâng cao trình độ lý luận, xây dựng sức đề kháng tư tưởng vững chắc để nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái một cách khoa học, thuyết phục. Quan trọng hơn, phải chủ động, kiên quyết trên mặt trận tư tưởng: dám đấu tranh, biết đấu tranh và thắng trong đấu tranh; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là cấp bách, quyết liệt.
Những yêu cầu ấy hoàn toàn thống nhất với tinh thần của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam – đặt trọng tâm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, đồng thời phát huy vai trò của khoa học – công nghệ và chuyển đổi số như công cụ chiến lược của công tác tư tưởng. Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đến 2030, tầm nhìn 2045, việc vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử không chỉ là kế thừa, mà còn là động lực tinh thần và cơ sở lý luận cho bước phát triển mới của dân tộc.
Tại Nghệ An – quê hương giàu truyền thống cách mạng – tinh thần ấy tiếp tục được cụ thể hóa trong Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, với yêu cầu xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị; chủ động, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đây không chỉ là sự kế thừa truyền thống mà còn là sự khẳng định tính thời sự, tính sống động của những giá trị mà đồng chí Hà Huy Tập đã dày công vun đắp từ buổi đầu cách mạng.
Đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, yêu cầu đặt ra không chỉ là truyền thụ tri thức mà còn là củng cố niềm tin, định hướng nhận thức xã hội. Muốn vậy, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, tăng tính thuyết phục; đồng thời chủ động ứng dụng chuyển đổi số, mở rộng không gian giáo dục tư tưởng. Quan trọng hơn, giảng viên phải trở thành lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, góp phần định hướng dư luận, lan tỏa giá trị đúng đắn và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng.
Có thể khẳng định rằng, đồng chí Hà Huy Tập là người chiến sĩ tiên phong, kiên trung trên mặt trận tư tưởng của Đảng trong buổi đầu cách mạng – người đã góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng, định hướng đúng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử. Những giá trị mà đồng chí để lại – bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy lý luận sắc bén và tinh thần đấu tranh kiên định – không chỉ là giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc mà còn là nguồn lực tinh thần quý báu cho công tác xây dựng Đảng trong thời đại mới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, việc học tập và vận dụng tấm gương đồng chí Hà Huy Tập không chỉ mang ý nghĩa tri ân, mà còn là yêu cầu cấp thiết để giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng phát triển và đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020–2025, Nghệ An.