Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhằm giải quyết vấn đề phòng, chống tảo hôn ở Nghệ An hiện nay
18/05/2026 05:48
Quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là bộ phận quan trọng trong hệ thống quyền nhân thân cơ bản, phản ánh địa vị pháp lý của cá nhân trong việc xác lập, duy trì và chấm dứt quan hệ hôn nhân, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong gia đình. Nội dung của nhóm quyền này bao gồm quyền tự do kết hôn, ly hôn; quyền bình đẳng giới...
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhằm giải quyết vấn đề phòng, chống tảo hôn ở Nghệ An hiện nay

TS. Nguyễn Thị Hoài An

GVC. Khoa Nhà nước và Pháp luật

Tóm tắt:

Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thông qua khảo cứu các văn bản pháp lý nền tảng của Nhà nước Việt Nam thời kỳ đầu như Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 97/SL, Sắc lệnh số 159/SL và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá thực trạng tảo hôn tại tỉnh Nghệ An, làm rõ những thách thức đang đặt ra đối với việc bảo đảm quyền con người trong quan hệ hôn nhân – gia đình, đồng thời đề xuất các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tảo hôn trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Hồ Chí Minh, quyền con người, hôn nhân và gia đình, tảo hôn, Nghệ An

 

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là bộ phận quan trọng trong hệ thống quyền nhân thân cơ bản, phản ánh địa vị pháp lý của cá nhân trong việc xác lập, duy trì và chấm dứt quan hệ hôn nhân, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong gia đình. Nội dung của nhóm quyền này bao gồm quyền tự do kết hôn, ly hôn; quyền bình đẳng giới; quyền bình đẳng giữa vợ và chồng; quyền của trẻ em trong môi trường gia đình; và quyền được bảo vệ trước các hành vi cưỡng ép, xâm hại trong quan hệ gia đình.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, con người luôn giữ vị trí trung tâm của tiến trình cách mạng. Người cho rằng mục tiêu cao nhất của cách mạng là giải phóng con người; mức độ bảo đảm quyền con người là thước đo bản chất tiến bộ của chế độ xã hội. Trên nền tảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống quan điểm toàn diện về quyền con người, trong đó có quyền con người trong hôn nhân và gia đình.

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ ở việc đề cao quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, quyền được bảo vệ của phụ nữ và trẻ em, cũng như yêu cầu xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc. Người kiên quyết phê phán và đấu tranh xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như cưỡng ép hôn nhân, tảo hôn, trọng nam khinh nữ – những yếu tố cản trở sự phát triển của con người và xã hội. Theo tư tưởng của Người, gia đình trong xã hội mới phải là thiết chế được xây dựng trên nền tảng yêu thương, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng chia sẻ trách nhiệm.

Những quan điểm này đã sớm được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước cách mạng tháng Tám Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến. Cùng với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến còn lợi dụng chế độ hôn nhân và gia đình đã tồn tại duy trì từ nhiều thế kỷ ở nước ta[1] để cũng cố nền tảng thống trị của chúng. Sau cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành một hệ thống pháp luật hành chính mới. Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc nam nữ bình đẳng trên mọi phương diện(điều 9), là cơ sở pháp lý để đấu tranh xóa bỏ những hủ tục của chế độ hôn nhân gia đình lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân gia đình dân chủ mới và tiến bộ. Sau đó, Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 đã bãi bỏ nhiều rào cản bất hợp lý trong quan hệ hôn nhân, thừa nhận quyền tái giá của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng trong gia đình, quyền thừa kế và quyền xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú, như: xóa bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ có tang (Điều 3); cho phép người đàn bà sau khi ly dị chồng có thể lấy người khác ngay sau khi có án tuyên ly dị nếu dẫn chứng được rằng mình  không có thai hoặc đang có thai(Điều 4); thực hiện nam nữ bình đẳng trong gia đình (Điều 5,6); xóa bỏ quyền "trừng giới" đối với cha mẹ và con (điều 8); bảo vệ quyền thừa kế cha mẹ và các con trong gia đình (điều 11); cho phép người con hoang vô thừa nhận được quyền thưa trước tòa án về truy nhận cha hoặc mẹ của mình (điều 9). Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 về ly hôn tiếp tục khẳng định quyền tự do ly hôn, xóa bỏ sự bất bình đẳng giới trong căn cứ ly hôn, đồng thời tăng cường cơ chế bảo hộ phụ nữ và trẻ em như: công nhận nguyên quyền tự do giá thú (kết hôn) và tự do ly hôn; xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong quy định "duyên cớ" ly hôn giữa vợ và chồng trong các Bộ Dân luật cũ đồng thời quy định "duyên cớ" ly hôn chung cho cả 2 vợ chồng (điều 2). Sắc lệnh quy định đơn giản thủ tục ly hôn (điều 3); thực hiện thực hiện nguyên tắc bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi khi ly hôn (điều 5); bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn (điều 6); thống nhất luật lệ về ly hôn trong toàn quốc.

Đặc biệt, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 – đạo luật đầu tiên điều chỉnh toàn diện lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam – đã thể chế hóa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua bốn nguyên tắc cốt lõi: hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; một vợ một chồng; bình đẳng nam nữ; bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Đây là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới ở Việt Nam.

Như vậy, có thể khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống tư tưởng của Người, vừa mang giá trị lý luận sâu sắc, vừa có ý nghĩa thực tiễn to lớn, tiếp tục là nền tảng định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật và giải quyết các vấn đề xã hội hiện nay, trong đó có vấn đề tảo hôn.

2. Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về tảo hôn

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tảo hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đạt độ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật, cụ thể nam chưa đủ 20 tuổi và nữ chưa đủ 18 tuổi. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền phát triển toàn diện của trẻ em và thanh thiếu niên.

Tảo hôn gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng ở cả cấp độ cá nhân và xã hội. Trước hết, việc kết hôn và sinh con khi chưa phát triển đầy đủ về thể chất làm tăng nguy cơ tai biến sản khoa, suy dinh dưỡng, tử vong mẹ và trẻ sơ sinh; từ đó ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe sinh sản và chất lượng dân số. Bên cạnh đó, hôn nhân sớm thường kéo theo tình trạng bỏ học, hạn chế khả năng tiếp cận giáo dục, thu hẹp cơ hội nghề nghiệp và cản trở sự phát triển lâu dài của thanh thiếu niên, đặc biệt là nữ giới.

Ở cấp độ xã hội, tảo hôn góp phần duy trì vòng luẩn quẩn của nghèo đói qua nhiều thế hệ, làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực và kéo dài tình trạng chậm phát triển tại các khu vực khó khăn. Ngoài ra, hôn nhân sớm còn làm gia tăng nguy cơ bạo lực gia đình, đổ vỡ hôn nhân và bất ổn xã hội.

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này mang tính đa chiều, bao gồm ảnh hưởng của phong tục tập quán truyền thống, hạn chế về nhận thức pháp luật, trình độ dân trí không đồng đều, điều kiện kinh tế khó khăn, cơ hội tiếp cận giáo dục hạn chế và thiếu hụt kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên.

Vì vậy, xét từ góc độ quyền con người, tảo hôn không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà còn là rào cản lớn đối với việc bảo đảm thực chất quyền con người, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phòng, chống tảo hôn ở tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn, địa hình phức tạp, tập trung nhiều xã miền núi và đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây cũng là địa bàn mà tình trạng tảo hôn vẫn còn diễn ra khá phổ biến, nhất là tại khu vực miền Tây Nghệ An – nơi điều kiện kinh tế, giáo dục và hạ tầng xã hội còn nhiều hạn chế.

Theo số liệu của Sở Dân tộc và Tôn giáo Nghệ An, trong giai đoạn 2015–2024, toàn tỉnh ghi nhận 2.237 trường hợp tảo hôn và 30 trường hợp hôn nhân cận huyết thống; trung bình mỗi năm có trên 220 trường hợp tảo hôn.

BIỂU TỔNG HỢP SỐ LIỆU TẢO HÔN & HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG

TỪ NĂM 2015 - 2024

Năm

Tổng số cặp kết hôn toàn tỉnh

Tảo hôn

HNCHT

Tổng cộng

Vợ hoặc chồng tảo hôn

Cả vợ và chồng tảo hôn

Tổng

2015

30,247

99

76

175

8

183

2016

28,271

101

71

172

6

178

2017

24,234

145

73

218

7

225

2018

25,861

119

70

189

2

191

2019

24,403

115

65

180

1

181

2020

 

287

85

372

3

375

2021

 

201

108

309

1

310

2022

 

119

176

295

1

296

2023

 

18

201

219

1

220

2024

 

10

98

108

 

108

Cộng

133,016

1,214

1,023

2,237

30

2,267

          Nguồn: Sở Dân tộc và Tôn giáo Nghệ An (2025), Báo cáo tổng hợp về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giai đoạn 2015–2024.

Phân tích dữ liệu cho thấy giai đoạn 2015–2019, số vụ tảo hôn duy trì ở mức cao và khá ổn định, dao động từ 172 đến 218 trường hợp/năm. Đáng chú ý, năm 2020 ghi nhận 372 trường hợp – mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu. (Năm 2020, 2021 là những năm diễn ra dịch Covid -19, đây có thể là một nguyên nhân xã hội cần được nghiên cứu thêm). Từ năm 2021 đến 2024, số vụ việc có xu hướng giảm dần, từ 309 xuống còn 108 trường hợp, cho thấy hiệu quả bước đầu của các biện pháp can thiệp.

Tuy nhiên, xét trên tổng thể, tảo hôn vẫn là vấn đề xã hội nghiêm trọng tại Nghệ An. Trong tổng số 1.214 trường hợp, khoảng 54% là trường hợp chỉ một bên chưa đủ tuổi kết hôn, trong khi 46% là trường hợp cả hai bên đều chưa đủ tuổi. Tỷ lệ này phản ánh tác động đáng kể của phong tục tập quán và chuẩn mực cộng đồng đối với hành vi kết hôn sớm.

Trên cơ sở đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác phòng, chống tảo hôn tại Nghệ An cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; một vợ một chồng cần thực hiện tốt các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện đại; siết chặt công tác kiểm soát đăng ký kết hôn tại cơ sở, xác định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã và xử lý nghiêm các hành vi tổ chức, môi giới hoặc bao che cho tảo hôn.

Thứ hai, đổi mới hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Nội dung truyền thông cần phù hợp với đặc điểm văn hóa – xã hội của từng cộng đồng dân tộc; mở rộng hình thức song ngữ, trực quan, ứng dụng nền tảng số và truyền thông cộng đồng; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín và chức sắc tôn giáo.

Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo dục và duy trì học sinh trong hệ thống nhà trường là một trong những yêu cầu quan trọng trong việc vận dụng tư tưởng của Bác về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, nhất là các trẻ em gái, thể hiện tính nhân văn cao cả trong bảo vệ quyền con người trong hôn nhân gia đình, các quyền sống, quyền tự do, quyền học tập,... Hạn chế bỏ học sớm là giải pháp mang tính nền tảng để giảm nguy cơ tảo hôn. Theo đó, các cơ quan tổ chức có thẩm quyền và các tổ chức xã hội cần mở rộng chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn và tích hợp giáo dục giới tính, kỹ năng sống, sức khỏe sinh sản vị thành niên vào chương trình học phù hợp.

Thứ tư, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số được coi là một trong những giải pháp quan trọng và là giải pháp căn bản để bảo vệ quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những nhu cầu ăn no mặc ấm, học tập, lao động, hưởng thụ những thành quả sáng tạo của con người đều có liên quan mật thiết đến các yếu tố bảo đảm các nhu cầu vật chất, sự bình đẳng, văn minh trong mỗi tế bào xã hội. Vì vậy, công tác giảm nghèo, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên cần được xem là giải pháp mang tính cấu trúc nhằm xử lý nguyên nhân kinh tế của tảo hôn.

Thứ năm, phát huy vai trò của hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội. Công tác phòng, chống tảo hôn cần được triển khai như nhiệm vụ liên ngành với sự tham gia đồng bộ của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cộng đồng dân cư; đồng thời xây dựng các mô hình tư vấn cộng đồng, câu lạc bộ thanh niên và tổ hỗ trợ pháp lý tại cơ sở.

Thứ sáu, bảo đảm tính nhân văn trong xử lý vi phạm. Bên cạnh việc áp dụng chế tài pháp luật, cần kết hợp giáo dục, tư vấn, hỗ trợ và thuyết phục nhằm tạo chuyển biến nhận thức bền vững trong cộng đồng, phù hợp với tinh thần nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Nhìn chung, hiệu quả phòng, chống tảo hôn tại Nghệ An chỉ có thể bền vững khi được triển khai đồng bộ trên cơ sở kết hợp giữa hoàn thiện pháp luật, giáo dục, phát triển kinh tế, chuyển biến văn hóa và huy động sức mạnh cộng đồng.

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là hệ giá trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Việc vận dụng sáng tạo những giá trị tư tưởng đó vào công tác phòng, chống tảo hôn tại Nghệ An không chỉ góp phần xử lý một vấn đề xã hội cấp thiết mà còn thúc đẩy thực thi quyền con người, xây dựng gia đình tiến bộ, bình đẳng và hướng tới phát triển bền vững.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946.

2. Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

3. Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

4. Luật Hôn nhân và Gia đình 1959. Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6. Hồ Chí Minh Toàn tập (2023), tập 4, 5, 6. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (2021), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

8. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người (2020), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

9. Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

10. UNICEF (2021), Child Marriage: Latest Trends and Future Prospects.

11. United Nations Population Fund (2020), Child Marriage in Vietnam: Situation and Solutions.

12. Ủy ban Dân tộc (2022), Báo cáo về tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng dân tộc thiểu số.

13. Sở Dân tộc và Tôn giáo Nghệ An (2025), Báo cáo tổng hợp về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giai đoạn 2015–2024.

14. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2023), Niên giám thống kê Việt Nam.

15. Công ước về Quyền Trẻ em 1989 của Liên Hợp Quốc.

 



[1] Xem Bộ luật Hồng Đức (triều Lê) và Bộ luật Gia Long (triều Nguyễn)