Từ Đại thắng mùa xuân năm 1975 đến khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường
29/04/2026 05:41
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mãi mãi là bản hùng ca bất diệt, là mốc son chói lọi đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. thắng lợi này không chỉ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội...
ThS. Cao Thị Thu Huyền
Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng
Tóm tắt: Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là mốc son vĩ đại trong lịch sử dân tộc, không chỉ hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mà còn mở ra kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên nền tảng thắng lợi đó, Việt Nam đã trải qua hành trình đầy khó khăn sau chiến tranh, từng bước khôi phục và phát triển đất nước. Bước ngoặt mang tính lịch sử là công cuộc đổi mới năm 1986, đưa đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhờ đó, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn: tăng trưởng kinh tế ổn định, quy mô nền kinh tế mở rộng, đời sống nhân dân cải thiện, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao.
Từ khóa: Đại thắng mùa Xuân năm 1975, khát vọng phát triển, Việt Nam hùng cường.
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mãi mãi là bản hùng ca bất diệt, là mốc son chói lọi đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. thắng lợi này không chỉ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, những giá trị lịch sử của Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không hề phai nhạt, mà trái lại, ngày càng được khẳng định sâu sắc trong thực tiễn phát triển đất nước. Từ xuất phát điểm của một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã từng bước vươn lên mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, dưới ánh sáng của văn kiện Đại hội XIV của Đảng, khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường đã trở thành mục tiêu chiến lược, vừa mang tính kế thừa lịch sử, vừa thể hiện tầm nhìn thời đại.
1. Đại thắng mùa Xuân 1975 – nền tảng lịch sử cho quá trình phát triển của đất nước
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tổng hợp của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ nhưng hết sức anh dũng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở đường lối chiến lược đúng đắn được xác lập và từng bước hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt là sau Hiệp định Hiệp định Paris năm 1973, Đảng ta đã kịp thời nắm bắt thời cơ, đề ra quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian ngắn nhất.
Diễn biến của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 thể hiện rõ tính chủ động, sáng tạo và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng. Bắt đầu từ thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3/1975), tạo ra bước đột phá chiến lược, làm tan rã hệ thống phòng thủ của chính quyền Sài Gòn ở khu vực trọng yếu; tiếp đó là thắng lợi nhanh chóng của Chiến dịch Huế – Đà Nẵng năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Trung; và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, kết thúc bằng sự kiện ngày 30/4/1975, giải phóng miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước.
Từ góc độ lý luận và thực tiễn, thắng lợi này khẳng định tính đúng đắn của đường lối cách mạng Việt Nam: kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao; phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời tranh thủ hiệu quả sự ủng hộ của lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đây cũng là minh chứng sinh động cho chân lý: trong điều kiện có đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo sáng suốt, một dân tộc dù còn nhiều khó khăn vẫn có thể giành thắng lợi trước các thế lực xâm lược có tiềm lực vật chất vượt trội.
Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mang ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Sự kiện này đã góp phần quan trọng vào việc làm suy yếu chủ nghĩa thực dân kiểu mới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, đồng thời khẳng định xu thế tất yếu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Từ phương diện phát triển, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã tạo ra tiền đề chính trị – xã hội có ý nghĩa quyết định: đất nước được thống nhất về lãnh thổ, chủ quyền quốc gia được bảo đảm, hệ thống chính trị được củng cố và ổn định. Đây là điều kiện tiên quyết để Việt Nam bước vào giai đoạn khôi phục, xây dựng và phát triển đất nước trên phạm vi cả nước, tiến tới hoạch định và triển khai các chiến lược phát triển dài hạn.
Đồng thời, những bài học lịch sử rút ra từ thắng lợi Đại thắng mùa Xuân năm 1975 – như kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng – đã trở thành những nguyên lý có giá trị bền vững, tiếp tục được vận dụng và phát triển trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước hiện nay.
2. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Sau thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Việt Nam bước vào giai đoạn lịch sử mới với nhiệm vụ trung tâm là khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình. Tuy nhiên, điểm xuất phát của nền kinh tế hết sức thấp. Chiến tranh kéo dài nhiều thập kỷ đã để lại hậu quả nặng nề: cơ sở hạ tầng bị tàn phá nghiêm trọng; sản xuất đình trệ; nguồn lực quốc gia cạn kiệt. Theo nhiều ước tính, hơn 80% cơ sở công nghiệp ở miền Bắc bị phá hủy trong chiến tranh phá hoại; hệ thống giao thông, năng lượng, đô thị xuống cấp; đời sống đại bộ phận nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Trong bối cảnh cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế, lại chịu tác động của bao vây, cấm vận và biến động quốc tế cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng kéo dài. Lạm phát có thời điểm vượt 700%/năm, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có một sự đổi mới căn bản về tư duy và mô hình phát triển.
Trước yêu cầu đó, Đại hội VI của Đảng (12/1986) đã khởi xướng công cuộc Đổi mới – một bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử. Việt Nam chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại.
Trên nền tảng đó, suốt bốn thập kỷ thực hiện đường lối Đổi mới đã đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định trong thời gian dài. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, đạt tương ứng trên 510 tỷ USD và trên 5.000 USD vào năm 2025[1]; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, phản ánh tiến bộ xã hội ngày càng thực chất và bền vững.
Cùng với đó, quá trình hội nhập quốc tế được triển khai toàn diện, sâu rộng và hiệu quả, đánh dấu bằng việc tham gia ngày càng tích cực vào các thể chế khu vực và toàn cầu, từ gia nhập ASEAN, WTO đến đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế quan trọng. Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các thị trường yếu tố sản xuất phát triển ngày càng đồng bộ.
Không chỉ đạt được những bước tiến vượt bậc về kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm, chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng nâng cao; khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng; nguồn nhân lực được cải thiện cả về quy mô và chất lượng. Những thành tựu đó không chỉ phản ánh sự phát triển về “lượng” mà còn cho thấy bước tiến rõ nét về “chất” của nền kinh tế và xã hội, khẳng định tính đúng đắn của đường lối Đổi mới và triển vọng phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Nhìn tổng thể, hành trình từ sau năm 1975 đến nay là một quá trình chuyển đổi sâu sắc, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khép kín sang một nền kinh tế thị trường năng động, hội nhập sâu rộng. Những thành tựu đạt được không chỉ khẳng định tính đúng đắn của đường lối Đổi mới, mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu cao hơn, xa hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp hiện đại.
3. Khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường trong thời đại mới
Trên nền tảng bốn thập kỷ Đổi mới, Đại hội XIII và đặc biệt là Đại hội XIV của Đảng đã nâng tầm khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc thành một định hướng chiến lược rõ ràng, toàn diện và dài hạn. Đây không chỉ là sự kế thừa liên tục qua các kỳ Đại hội, mà còn là bước phát triển mới về tư duy, thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của Đảng trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Theo đó, hai mốc phát triển mang ý nghĩa lịch sử tiếp tục được khẳng định: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tuy nhiên, điểm cốt lõi không chỉ nằm ở các chỉ tiêu tăng trưởng, mà ở yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với bền vững, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong định hình con đường đi lên, Đại hội XIV nhấn mạnh bước chuyển mang tính đột phá: lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực trung tâm. Mô hình tăng trưởng được tái cấu trúc theo hướng nâng cao năng suất, phát huy vai trò của TFP, phát triển kinh tế số trở thành trụ cột quan trọng, mở ra không gian phát triển mới và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.
Để hiện thực hóa khát vọng đó, ba đột phá chiến lược tiếp tục được hoàn thiện và nhấn mạnh: thể chế đồng bộ, hiện đại; nguồn nhân lực chất lượng cao; và hệ thống hạ tầng đồng bộ, trong đó hạ tầng số và giao thông giữ vai trò then chốt. Đây chính là nền tảng để giải phóng và phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển.
Bao trùm lên tất cả, Đại hội XIV khẳng định nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển; coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh quan trọng. Phát triển kinh tế gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu – đó chính là con đường để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và vươn tới tầm cao mới.
Nhìn tổng thể, quan điểm của Đại hội XIV thể hiện bước chuyển quan trọng từ tư duy phát triển để bắt kịp sang phát triển để bứt phá và dẫn dắt, từ hội nhập bị động sang chủ động, tích cực tham gia định hình các cấu trúc kinh tế – chính trị khu vực và toàn cầu. Đây chính là nền tảng lý luận để khẳng định Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nơi khát vọng hùng cường không chỉ là mục tiêu chính trị mà trở thành động lực phát triển bao trùm toàn xã hội.
Đáng chú ý, khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường hôm nay không tách rời khỏi những giá trị lịch sử của Đại thắng mùa Xuân 1975. Tinh thần độc lập, tự chủ; ý chí tự lực, tự cường; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được kế thừa và phát huy trong điều kiện mới. Nếu như năm 1975, dân tộc Việt Nam giành thắng lợi bằng ý chí và lòng quả cảm, thì trong thời đại mới, thắng lợi ấy phải được tiếp nối bằng trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực đổi mới sáng tạo, nhằm hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và vươn lên tầm cao mới trên trường quốc tế.
4. Khát vọng phát triển từ tầm nhìn quốc gia đến địa phương Nghệ An
Trong tổng thể không gian phát triển quốc gia, các địa phương chính là những “tế bào” hiện thực hóa khát vọng chung. Tại Nghệ An – vùng đất giàu truyền thống cách mạng, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh – tinh thần Đại thắng mùa Xuân 1975 và định hướng của Đại hội XIV được vận dụng sáng tạo trong hoạch định chiến lược phát triển.
Cụ thể hóa đường lối Trung ương, Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX xác định mục tiêu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá của cả nước, trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ về thương mại, dịch vụ, giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học – công nghệ và công nghiệp. Định hướng ấy không chỉ phản ánh tầm nhìn chiến lược mà còn thể hiện quyết tâm bứt phá vươn lên của địa phương.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy nền tảng phát triển đang được củng cố vững chắc: GRDP duy trì tốc độ tăng trưởng khá (khoảng 8–9%/năm giai đoạn 2021–2023)[2], quy mô kinh tế mở rộng, thu ngân sách tăng nhanh, thu hút đầu tư – đặc biệt là FDI – có bước chuyển rõ nét với nhiều dự án lớn tại Khu kinh tế Đông Nam. Những kết quả đó tạo lực đẩy quan trọng cho giai đoạn phát triển mới.
Quán triệt tinh thần Đại hội XIV, Nghệ An đang chuyển mạnh mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển công nghiệp giá trị cao, mở rộng không gian kinh tế, đồng thời thúc đẩy chính quyền số, kinh tế số, xã hội số – tất cả nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh.
Song hành với đó, tỉnh đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực, coi con người là trung tâm và động lực của phát triển. Hệ thống giáo dục – đào tạo, dạy nghề được gắn với nhu cầu thị trường, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
Đáng chú ý, Nghệ An phát huy mạnh mẽ nguồn lực văn hóa – lịch sử và truyền thống cách mạng như một lợi thế riêng có. Các giá trị di sản, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, được khai thác gắn với phát triển du lịch bền vững, góp phần chuyển hóa truyền thống thành động lực nội sinh. Chính sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và đổi mới đang tạo nên nền tảng vững chắc để Nghệ An bứt phá, đóng góp ngày càng quan trọng vào khát vọng phát triển chung của đất nước.
Có thể thấy, quá trình phát triển của Nghệ An hiện nay là minh chứng sinh động cho việc kết hợp hài hòa giữa định hướng chiến lược của Trung ương với điều kiện thực tiễn của địa phương; giữa truyền thống và hiện đại; giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa – lịch sử. Đây cũng chính là cách thức cụ thể hóa khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, bắt đầu từ những hành động thiết thực, hiệu quả ở từng địa phương.
Như vậy, từ Đại thắng mùa Xuân 1975 đến khát vọng phát triển Việt Nam hùng cường là một hành trình lịch sử liên tục, thể hiện sự kế thừa và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam. Nếu như chiến thắng năm 1975 là biểu tượng của ý chí độc lập và thống nhất, thì khát vọng hôm nay là biểu tượng của ý chí vươn lên, phát triển và khẳng định vị thế quốc gia trong thế giới hiện đại. Trong hành trình đó, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều có trách nhiệm tiếp tục phát huy tinh thần của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, biến khát vọng thành hành động cụ thể, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, t.1,2,3,4,5,HN.2000.
2. Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 (2010), tập 6, Nxb Giáo Dục.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, HN.2021.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, HN.2026.
5. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020–2025, Nghệ An
[1] Chính phủ Việt Nam (2025), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025 và 5 năm 2021–2025.
[2] Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020–2025, Nghệ An