Từ chính sách 'Bình dân học vụ" của Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo để xây dựng xã hội học tập hiện nay
02/09/2026 12:34
Thực hiện "bình dân học vụ" của chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một chính sách có ý nghĩa chiến lược, đặt nền móng cho sự nghiệp nâng cao dân trí, phát triển con người và xây dựng nền giáo dục của nước Việt Nam mới. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã kế thừa, phát triển tư tưởng đó theo hướng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số...
Từ chính sách 'Bình dân học vụ

TS. Nguyễn Văn Điều

GVC. Khoa Lý luận cơ sở

Tóm tắt: Thực hiện "bình dân học vụ" của chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một chính sách có ý nghĩa chiến lược, đặt nền móng cho sự nghiệp nâng cao dân trí, phát triển con người và xây dựng nền giáo dục của nước Việt Nam mới. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã kế thừa, phát triển tư tưởng đó theo hướng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng công dân học tập. Bài viết làm rõ sự kế thừa và phát triển tư tưởng "Bình dân học vụ" của Hồ Chí Minh trong Nghị quyết số 71-NQ/TW về xây dựng xã hội học tập; đồng thời phân tích thực tiễn triển khai tại Nghệ An..

Từ khoá: Chính sách “bình dân học vụ”; Chính phủ Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 71-NQ/TW; xã hội học tập; học tập suốt đời.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ trương “bình dân học vụ” sau cách mạng Tháng Tám năm 1945

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức. Bên cạnh nạn đói, thù trong giặc ngoài và nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh, một trong những vấn đề cấp bách nhất là tình trạng mù chữ diễn ra trên diện rộng. Do thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, “hạn chế mở trường học, không muốn cho dân ta biết chữ”[1] nên đã gây hậu quả hết sức nặng nề: “95% dân chúng Việt Nam không biết một thứ chữ gì. Riêng với phụ nữ, nạn mù chữ rất nặng nề với tỷ lệ 97,1% - 99,7%”[2]; “Tính ra trong 100 người dân chỉ có 3 trẻ em từ 8 đến 16 tuổi được đi học, 2 người lớn biết chữ, còn 95 người mù chữ. Đó là chưa kể đến vùng thôn xóm hẻo lánh hay vùng đồng bào thiểu số, ở đó, tỷ số người thất học lên tới 100%”[3]. Nhận thức sâu sắc rằng độc lập dân tộc chỉ thực sự có ý nghĩa khi nhân dân được nâng cao dân trí, có tri thức để tham gia quản lý đất nước và kiến thiết xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chống nạn mù chữ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của Nhà nước cách mạng.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của đất nước, trong đó chống nạn mù chữ được đặt ngang hàng với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm. Người chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[4]. Luận điểm ngắn gọn nhưng hàm chứa một tầm nhìn chiến lược sâu sắc, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ dân trí với sức mạnh quốc gia. Theo Hồ Chí Minh: “Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, không chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới”[5]. Vì vậy, nâng cao dân trí không đơn thuần là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Đáp ứng nguyện vọng đó, ngày 8-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký các sắc lênh về giáo dục, cụ thể: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ trong Bộ Quốc gia Giáo dục, quy định mọi người phải ra sức diệt giặc dốt, đi liền với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ được đặt lên hàng đầu, đồng thời tiếng Việt được quyết định dùng làm ngôn ngữ của nền giáo dục và cho mọi công văn giấy tờ; Sắc lệnh số 18/SL bãi bỏ ngạch học quan do chính sách thực dân Pháp đặt ra; Sắc lệnh số 19/SL hạn trong 6 tháng, làng nào và thị trấn nào cũng phải có ít ra là 1 lớp học bình dân dạy được ít nhất là 30 người; Sắc lệnh số 20/SL quy định việc bắt buộc học chữ Quốc ngữ trong toàn quốc, quy định học không mất tiền, hạn trong một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ[6].

Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về “Bình dân học vụ” không chỉ nằm ở mục tiêu xóa mù chữ mà còn thể hiện ở quan điểm giáo dục vì con người, vì sự phát triển của dân tộc. Theo Người, học tập là quyền lợi đồng thời cũng là trách nhiệm của mỗi người dân. Người nhiều lần khẳng định việc học không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp hay điều kiện xã hội; bất cứ ai chưa biết chữ đều cần được tạo điều kiện học tập. Chính vì vậy, phong trào “Bình dân học vụ” đã nhanh chóng trở thành một phong trào xã hội rộng lớn với tinh thần “người biết nhiều dạy người biết ít, người biết chữ dạy người chưa biết chữ”, huy động sự tham gia của toàn dân, từ cán bộ, giáo viên, học sinh đến các tầng lớp nhân dân. Đây là một cách tiếp cận mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm, coi giáo dục là con đường quan trọng để giải phóng con người và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc.

Từ những chủ trương trên có thể khẳng định, "Bình dân học vụ" không chỉ giải quyết yêu cầu cấp bách của đất nước sau Cách mạng Tháng Tám mà còn hình thành triết lý phát triển con người thông qua giáo dục. Chính triết lý này đã trở thành nền tảng để Đảng ta tiếp tục kế thừa, phát triển thành chủ trương xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

2. Nghị quyết 71 với sự phát triển tư tưởng "bình dân học vụ" trong xây dựng xã hội học tập suốt đời - thực tiễn ở Nghệ An

Nếu như phong trào "bình dân học vụ" do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở đầu cho sự nghiệp nâng cao dân trí, xóa nạn mù chữ và xây dựng nền giáo dục của nước Việt Nam mới, thì gần tám thập niên sau, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã kế thừa và phát triển tư tưởng đó trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn mới. Sự phát triển này không chỉ là sự tiếp nối về mục tiêu phát triển con người mà còn thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng từ xóa mù chữ sang xây dựng xã hội học tập, từ quyền được học sang học tập suốt đời, từ nâng cao dân trí sang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng công dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

Điểm xuyên suốt giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 71-NQ/TW là quan điểm nhất quán coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Năm 1945, khi hơn 95% dân số chưa biết chữ, nhiệm vụ cấp bách là giúp nhân dân biết đọc, biết viết để thoát khỏi "giặc dốt", từng bước làm chủ cuộc sống và tham gia xây dựng chính quyền cách mạng. Đến nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, yêu cầu đối với người học không còn dừng lại ở việc biết chữ mà phải có năng lực tiếp cận, sáng tạo và làm chủ tri thức mới. Vì vậy, Nghị quyết số 71 xác định xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những giải pháp chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Điểm phát triển nổi bật của Nghị quyết số 71 là chuyển từ tư duy giáo dục trong phạm vi nhà trường sang xây dựng hệ sinh thái học tập của toàn xã hội. Theo đó, việc học không chỉ diễn ra trong trường học mà còn được mở rộng tới gia đình, cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và không gian số. Mỗi cá nhân vừa là người học, vừa là người chia sẻ tri thức; mỗi tổ chức vừa là nơi làm việc, vừa là môi trường học tập. Đây chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về huy động sức mạnh toàn dân tham gia giáo dục, nhưng ở tầm cao hơn, phù hợp với yêu cầu của xã hội số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thực tiễn triển khai tại Nghệ An đã cho thấy sự cụ thể hóa sinh động tinh thần của Nghị quyết số 71 trên nền tảng kế thừa tư tưởng "bình dân học vụ". Là quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghệ An luôn xác định phát triển giáo dục, khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy truyền thống hiếu học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển bền vững. Những năm qua, phong trào khuyến học, khuyến tài tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng, trở thành điểm sáng trong cả nước. Hệ thống tổ chức Hội Khuyến học được củng cố từ tỉnh đến cơ sở, thu hút hàng trăm nghìn hội viên tham gia, tạo nên mạng lưới khuyến học rộng khắp, góp phần lan tỏa tinh thần học tập trong toàn xã hội.

Một kết quả nổi bật là việc triển khai đồng bộ các mô hình học tập theo định hướng của Trung ương. Các danh hiệu "Gia đình học tập", "Dòng họ học tập", "Cộng đồng học tập", "Đơn vị học tập" và đặc biệt là "Công dân học tập" được xây dựng ngày càng thực chất, gắn với các tiêu chí về học tập thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và trách nhiệm đối với cộng đồng. Tỷ lệ đăng ký và được công nhận các danh hiệu học tập hằng năm đều đạt mức cao, phản ánh sự chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động của các tầng lớp nhân dân trong việc xây dựng văn hóa học tập và học tập suốt đời.

Song hành với đó, hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng tiếp tục được duy trì tại 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, trở thành thiết chế quan trọng trong việc phổ biến kiến thức, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đào tạo nghề, bồi dưỡng kỹ năng sống và nâng cao năng lực số cho người dân. Thông qua các lớp tập huấn, chuyên đề và hoạt động tư vấn, các trung tâm không chỉ đáp ứng nhu cầu học tập của người dân ở cơ sở mà còn góp phần đưa chủ trương học tập suốt đời đi vào thực tiễn, nhất là tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số[7].

Phong trào khuyến học ở Nghệ An còn được khẳng định thông qua nhiều mô hình sáng tạo như "Tết Khuyến học Nghệ An", các quỹ khuyến học, quỹ học bổng của dòng họ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân; hoạt động tuyên dương học sinh giỏi, giáo viên tiêu biểu, hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn được duy trì thường xuyên, góp phần xây dựng môi trường học tập lành mạnh, khơi dậy khát vọng vươn lên bằng tri thức trong mỗi gia đình và cộng đồng. Những kết quả đó phản ánh sự chuyển biến từ phong trào khuyến học đơn thuần sang xây dựng một xã hội học tập với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội[8].

Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình xây dựng xã hội học tập ở Nghệ An vẫn còn những khó khăn nhất định như sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận giáo dục và công nghệ giữa miền núi và đồng bằng; hạ tầng số ở một số địa bàn còn hạn chế; kỹ năng số của một bộ phận người dân chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; hoạt động của một số trung tâm học tập cộng đồng chưa thật sự đồng đều. Điều đó đòi hỏi tỉnh cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động học tập, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, phát triển học liệu số, nâng cao năng lực số cho người dân và xây dựng môi trường học tập mở, linh hoạt, đáp ứng yêu cầu của xã hội số.

3. Một số giải pháp xây dựng xã hội học tập trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “bình dân học vụ” và thực hiện Nghị quyết 71 tại Nghệ An trong thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của học tập suốt đời trong phát triển con người và phát triển địa phương. Xây dựng xã hội học tập không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân. Cần tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao dân trí; tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết số 71-NQ/TW và Chương trình hành động số 13-CTr/TU, ngày 09/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An về thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW; hình thành nhận thức thống nhất rằng học tập suốt đời là điều kiện để mỗi cá nhân thích ứng với khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và AI, đồng thời đưa mục tiêu xây dựng xã hội học tập vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thứ hai, đổi mới tư duy quản trị và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển xã hội học tập. Cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển; rà soát, bổ sung chính sách khuyến khích học tập suốt đời, ưu tiên đầu tư hạ tầng số, hạ tầng giáo dục, nhất là vùng khó khăn; xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, đồng thời tăng cường kiểm tra, sơ kết, tổng kết và nhân rộng các mô hình học tập hiệu quả.

Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái học tập số, tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận tri thức mọi lúc, mọi nơi. Nếu phong trào "Bình dân học vụ" trước đây hướng tới phổ cập chữ viết thì hiện nay cần hướng tới phổ cập tri thức số và kỹ năng số. Nghệ An cần phát triển kho học liệu số, thư viện số, nền tảng học trực tuyến; ứng dụng AI trong quản trị, dạy học và hỗ trợ học tập, từng bước xây dựng trường học số, trường học thông minh; đồng thời phổ cập kỹ năng số cho người dân, nhất là các nhóm yếu thế, góp phần thu hẹp khoảng cách số.

Thứ tư, phát triển đội ngũ và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập. Cần chú trọng bồi dưỡng năng lực số, năng lực ứng dụng AI, đổi mới sáng tạo cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và người lao động; khuyến khích tự học, tự bồi dưỡng, xây dựng văn hóa học tập trong các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp; gắn học tập suốt đời với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh.

Thứ năm, phát huy vai trò của các thiết chế giáo dục và các lực lượng xã hội trong xây dựng xã hội học tập. Cần tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng; tăng cường phối hợp giữa ngành giáo dục với Hội Khuyến học, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và các tổ chức xã hội trong đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng số; huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục, tạo điều kiện để mọi người được học tập, cập nhật tri thức và nâng cao trình độ trong suốt cuộc đời.

Kết luận

Chính sách "Bình dân học vụ" của Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đặt nền móng cho sự nghiệp nâng cao dân trí và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam. Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW đã kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, hướng tới xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và công dân số đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế. Thực tiễn ở Nghệ An cho thấy việc triển khai Nghị quyết số 71 gắn với Chương trình hành động số 13-CTr/TU, ngày 09/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An về thực hiện Nghị quyết số 71 đã bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong phát triển văn hóa học tập và phát huy truyền thống hiếu học của quê hương. Tiếp tục vận dụng sáng tạo những giá trị của chính sách "Bình dân học vụ", thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW sẽ góp phần xây dựng xã hội học tập hiện đại, tạo nền tảng để Nghệ An phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.



[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 40.

[2] Vũ Ngọc Bình: “Chống nạn mù chữ ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5 (1990), tr. 24.

[3] Vũ Huy Phúc: “Vài nét về phong trào thanh toán nạn mù chữ ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 30 (1961), tr. 33

[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 7.

[5] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 10, tr. 125.

[6] Lê Mậu Hãn (Chủ biên): Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, Nxb Văn hóa Thông tin, H, 2006, T.1 (1945-1954), tr. 32-33.

[7] Dẫn theo: Hội Khuyến học Tỉnh Nghệ An: Báo cáo tổng kết công tác khuyến học năm 2024, Phương hướng nhiệm vụ năm 2025

[8] Dẫn theo: Hội Khuyến học Tỉnh Nghệ An: Báo cáo tổng kết công tác khuyến học năm 2024, Phương hướng nhiệm vụ năm 2025