Kỷ niệm 81 năm ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945-23/9/2026): Nam Bộ kháng chiến - sức mạnh của ý chí độc lập và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
23/09/2026 08:28
Cách đây 81 năm, khi nền độc lập vừa được khai sinh, nhân dân Nam Bộ đã phải cầm vũ khí bảo vệ thành quả cách mạng bằng chính máu xương của mình. Rạng sáng ngày 23/9/1945, trước tiếng súng tái xâm lược của thực dân Pháp tại Sài Gòn, lời thề “Độc lập hay là chết” vang lên, thôi thúc cả miền Nam anh dũng đứng dậy...
ThS. Cao Thị Thu Huyền
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng
Tóm tắt: Nam Bộ kháng chiến bùng nổ ngày 23/9/1945, thể hiện ý chí kiên quyết bảo vệ nền độc lập vừa giành được của nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Nam Bộ đã anh dũng chiến đấu, cùng sự ủng hộ, chi viện của đồng bào cả nước tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tinh thần ấy tiếp tục là nguồn sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Từ khóa: Nam Bộ kháng chiến; ý chí độc lập; đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Tổ quốc.
Cách đây 81 năm, khi nền độc lập vừa được khai sinh, nhân dân Nam Bộ đã phải cầm vũ khí bảo vệ thành quả cách mạng bằng chính máu xương của mình. Rạng sáng ngày 23/9/1945, trước tiếng súng tái xâm lược của thực dân Pháp tại Sài Gòn, lời thề “Độc lập hay là chết” vang lên, thôi thúc cả miền Nam anh dũng đứng dậy. Từ những chiến lũy giữa lòng thành phố đến các đoàn quân Nam tiến từ khắp mọi miền Tổ quốc, lòng yêu nước và ý chí độc lập đã kết thành sức mạnh toàn dân, kìm chân quân xâm lược, bước đầu làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh”, tạo thời gian quý báu để cả nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Nam Bộ kháng chiến vì thế không chỉ mở đầu cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ, mà còn tạc vào lịch sử khí phách của một dân tộc thà hy sinh tất cả, quyết không trở lại kiếp đời nô lệ.
1. Nam Bộ đứng lên giữ trọn lời thề độc lập
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Nhưng nền độc lập vừa khai sinh đã đứng trước muôn vàn thử thách. Lợi dụng quân Anh vào giải giáp quân đội phát xít Nhật, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị tái chiếm Nam Bộ. Đêm 22, rạng sáng ngày 23/9/1945, chúng bất ngờ đánh chiếm nhiều cơ quan của chính quyền cách mạng tại Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
Trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, nhân dân Nam Bộ không lùi bước. Lời thề “Độc lập hay là chết” vang lên, thôi thúc mọi tầng lớp nhân dân nhất tề đứng dậy. Mệnh lệnh “Cuộc kháng chiến bắt đầu!” không chỉ đánh dấu giờ phút Nam Bộ bước vào cuộc chiến đấu mới, mà còn khẳng định ý chí sắt đá của một dân tộc đã giành được độc lập và quyết không trở lại kiếp đời nô lệ.
Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi sát tình hình, kịp thời chuẩn y và động viên cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ. Ngày 26/9/1945, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lời kêu gọi tới đồng bào Nam Bộ, bày tỏ niềm tin vào “lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ” và khẳng định Chính phủ cùng đồng bào cả nước sẽ hết sức giúp đỡ những chiến sĩ và nhân dân đang hy sinh chiến đấu để giữ vững nền độc lập. Người chỉ rõ cơ sở của niềm tin thắng lợi: cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính đáng và dân tộc ta có sức mạnh đoàn kết của toàn dân1. Những lời ấy vừa là sự cổ vũ lớn lao đối với tiền tuyến miền Nam chống thực dân Pháp, vừa ủng hộ Nam Bộ kháng chiến là nhiệm vụ chung của cả nước.
Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân Pháp xâm lược, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng; đồng thời đề ra những nhiệm vụ cụ thể về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và ngoại giao2. Chủ trương đó thể hiện năng lực phân tích đúng tình hình, xác định đúng đối tượng và kết hợp kháng chiến với kiến quốc. Cuộc chiến đấu ở Nam Bộ vì vậy không tách rời nhiệm vụ củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài trên phạm vi cả nước.
Tháng 2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”. Đó là sự ghi nhận xứng đáng đối với miền đất đã đứng nơi đầu sóng, ngọn gió, lấy máu xương che chở nền độc lập non trẻ. Từ mùa thu lịch sử ấy, Nam Bộ “đi trước về sau” đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, khí phách quật cường và lời thề giữ trọn non sông.
2. Ý chí độc lập và đại đoàn kết làm nên sức mạnh Nam Bộ kháng chiến
Trước hết, Nam Bộ kháng chiến là biểu hiện tập trung của ý chí độc lập, tự chủ và quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng. Độc lập đối với nhân dân Việt Nam không phải một khái niệm trừu tượng. Đó là thành quả của nhiều năm đấu tranh, của biết bao hy sinh, là quyền được làm chủ đất nước vừa trở thành hiện thực sau Cách mạng Tháng Tám. Bởi vậy, khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm các cơ quan của chính quyền cách mạng tại Sài Gòn trong đêm 22, rạng sáng 23/9/1945, quân và dân thành phố đã chống trả ngay tại nhiều địa điểm. Trong ngày đầu kháng chiến, những cuộc chiến đấu diễn ra ở ga xe lửa, cầu Ông Lãnh, chợ Bến Thành; tại cột cờ Thủ Ngữ, một tiểu đội tự vệ đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng. Những hành động ấy cho thấy nhân dân Nam Bộ hiểu rõ: bảo vệ chính quyền cách mạng trong giờ phút hiểm nghèo chính là bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Từ nhận thức đó, lòng yêu nước đã chuyển thành ý chí quyết chiến và hành động cụ thể, bất chấp sự chênh lệch về lực lượng, vũ khí.
Hai là, cuộc kháng chiến cho thấy vai trò của sự lãnh đạo, tổ chức trong việc quy tụ lòng yêu nước thành sức mạnh chung. Sáng 23/9/1945, trước tình thế khẩn cấp, các cơ quan lãnh đạo ở Nam Bộ họp tại Cây Mai, Chợ Lớn, quyết định phát động kháng chiến và tổ chức lực lượng chỉ đạo cuộc chiến đấu. Chủ trương ấy nhanh chóng được cụ thể hóa bằng những hành động phối hợp: chiến đấu chống quân địch tiến công, tổng đình công, bất hợp tác, dựng chướng ngại vật và cắt các đường tiếp tế của chúng. Cùng với quyết định từ chiến trường, sự chuẩn y và động viên kịp thời của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định cuộc kháng chiến ở Nam Bộ là sự nghiệp chung của cả nước. Trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ” ngày 26/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ niềm tin vào tinh thần yêu nước kiên quyết của đồng bào và khẳng định Chính phủ, nhân dân cả nước sẽ hết sức giúp đỡ những người đang chiến đấu bảo vệ nền độc lập.
Ba là, Nam Bộ kháng chiến khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngay tại Nam Bộ, kháng chiến không phải công việc riêng của lực lượng vũ trang. Mọi tầng lớp nhân dân đều tìm thấy vị trí của mình trong cuộc chiến đấu: người trực tiếp cầm súng, người dựng chướng ngại, người vận chuyển lương thực, người cứu chữa thương binh, người giữ bí mật và nuôi giấu cán bộ. Sự tham gia rộng khắp ấy đã tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, khiến quân xâm lược dù chiếm được một số vị trí vẫn bị cô lập, bao vây giữa lòng một dân tộc đồng lòng đứng lên bảo vệ nền độc lập.
Ngay tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, tinh thần ấy đã hiện thành hành động. Đáp lời kêu gọi kháng chiến, nhân dân đồng loạt bãi công, bãi khóa, bãi thị; nhiều tuyến phố dựng chướng ngại vật, các đường tiếp tế của quân Pháp bị cắt đứt. Trong ngày 23/9/1945, quân và dân ta chống trả quyết liệt tại nhiều địa điểm như ga xe lửa, cầu Ông Lãnh, chợ Bến Thành; một tiểu đội tự vệ chiến đấu bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ đã hy sinh đến người cuối cùng. Từ những người cầm súng đến người ngừng việc, đóng chợ, dựng chiến lũy, cả đô thị đã cùng tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Đại đoàn kết còn được thể hiện ở tình cảm và hành động của đồng bào cả nước hướng về Nam Bộ. Phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến phát triển rộng khắp. Nhiều cuộc mít tinh, quyên góp thuốc men, tiền của và vật dụng được tổ chức; đặc biệt, những đoàn quân Nam tiến gồm bộ đội, thanh niên và các lực lượng cứu quốc từ nhiều địa phương đã lên đường vào Nam chiến đấu. Những chuyến tàu Nam tiến chở theo không chỉ con người và vũ khí, mà còn chở theo lời khẳng định mạnh mẽ rằng Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam; cuộc chiến đấu ở Nam Bộ là cuộc chiến đấu của toàn thể dân tộc.
Từ những giá trị trên có thể khẳng định, thắng lợi của Nam Bộ kháng chiến trước hết là thắng lợi của ý chí không chịu mất nước, của năng lực quy tụ lòng dân và biến lòng yêu nước thành hành động có tổ chức. Quân, dân Nam Bộ đã chiến đấu, kìm chân và tiêu hao địch, làm phá sản một bước kế hoạch đánh nhanh, tạo điều kiện để Đảng, Chính phủ và Nhân dân cả nước củng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Giá trị lớn lao ấy được tiếp nối trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và hai mươi năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đi tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất.
3. Phát huy giá trị Nam Bộ kháng chiến trong giai đoạn hiện nay
Tám mươi mốt năm đã trôi qua, Nhân dân ta đang sống trong hòa bình, thống nhất và bước vào giai đoạn phát triển mới. Bối cảnh, nhiệm vụ và phương thức bảo vệ Tổ quốc đã thay đổi sâu sắc, nhưng những giá trị được hun đúc từ Nam Bộ kháng chiến vẫn giữ nguyên sức sống. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ phát triển đất nước với bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đó chính là sự kế thừa và phát triển bài học lịch sử trong điều kiện mới.
Trước hết, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững lợi ích quốc gia, dân tộc trong mọi hoàn cảnh. Nếu năm 1945, thử thách hiện hữu bằng súng đạn và hành động tái xâm lược, thì ngày nay những thách thức đối với độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia biểu hiện đa dạng hơn, trên đất liền, biển đảo, không gian mạng cũng như trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và tư tưởng. Vì vậy, ý chí giữ nước phải được thể hiện bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược, năng lực dự báo và khả năng xử lý kịp thời các tình huống. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền phải gắn với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đó là cách tiếp nối tinh thần quyết bảo vệ nền độc lập của đồng bào Nam Bộ bằng trách nhiệm và hành động phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Hai là, tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”. Nam Bộ năm 1945 có thể kiên cường đứng lên bởi cuộc kháng chiến đã quy tụ nhiều lực lượng xã hội, biến mỗi người dân thành một chủ thể của cuộc chiến đấu, mỗi địa bàn dân cư thành một bộ phận của thế trận; đồng thời nhận được sự đồng lòng, chi viện của cả nước. Bài học ấy cho thấy đại đoàn kết chỉ bền chặt khi được xây dựng từ niềm tin và sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, cần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc cùng quyền làm chủ, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm nền tảng để tập hợp sức mạnh toàn dân. Mọi chủ trương chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi người dân được thông tin đầy đủ, được tham gia, được thụ hưởng thành quả và thấy rõ trách nhiệm của mình đối với cộng đồng, đất nước.
Ba là, phát huy vai trò nêu gương, bản lĩnh và trách nhiệm hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong thời khắc 23/9/1945, lời kêu gọi kháng chiến có sức lay động bởi cán bộ, đảng viên và lực lượng nòng cốt đã có mặt ở nơi gian khó, trực tiếp tổ chức và cùng nhân dân chiến đấu. Hôm nay, yêu cầu tiên phong không dừng ở lời nói, mà phải được chứng minh bằng năng lực giải quyết công việc, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; bằng sự liêm chính, kỷ luật và thái độ phục vụ nhân dân. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Đó là định hướng để chuyển hóa tinh thần Nam Bộ kháng chiến thành bản lĩnh trước khó khăn, sự chủ động trước nhiệm vụ mới và trách nhiệm đến cùng với công việc được giao. Cán bộ càng gần dân, hiểu dân và làm việc có kết quả, sức mạnh đoàn kết và niềm tin của nhân dân càng được củng cố.
Bốn là, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử Đảng và lý luận chính trị. Các thế lực thù địch, phản động âm mưu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp ý nghĩa các cuộc kháng chiến và kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân . Đối với Nam Bộ kháng chiến, cần làm rõ đây là cuộc chiến đấu tự vệ chính nghĩa của nhân dân một quốc gia độc lập chống hành động tái xâm lược; là sự nghiệp của nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng, gắn bó với sự ủng hộ và chi viện của cả nước. Bảo vệ sự thật lịch sử đòi hỏi tư liệu xác thực, lập luận chặt chẽ và cách truyền đạt có sức thuyết phục; qua đó bảo vệ giá trị thiêng liêng của dân tộc và bồi đắp niềm tin của nhân dân.
Như vậy, ngày 23/9/1945 đã lùi xa, nhưng lời thề giữ nước của Nam Bộ vẫn vang vọng trong hành trình dân tộc. Từ một chiến trường ở miền Nam Tổ quốc, ý chí kiên quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, bảo vệ độc lập dân tộc, thành quả của Cách mạng Tháng Tám đã hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp ; mặc dù phải chiến đấu trong vòng vây, thù trọng giặc ngoài, nhưng với niềm tin vào chính nghĩa đã mở đường cho thắng lợi của cuộc kháng chiến. Nam Bộ xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”, không chỉ bởi sự kiên cường trong ba mươi năm chiến đấu, mà còn bởi đã góp phần khắc sâu một chân lý: không một kẻ thù xâm lược nào có thể khuất phục một dân tộc biết đoàn kết để bảo vệ quyền sống và tương lai của mình.
Kỷ niệm 81 năm Ngày Nam Bộ kháng chiến là dịp để tri ân những người đã ngã xuống cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Điều càng có ý nghĩa hơn của ngày hôm nay là làm cho ý chí độc lập, sức mạnh đại đoàn kết và tinh thần cách mạng tiếp tục hiện diện trong từng chủ trương, từng việc làm, từng trách nhiệm gắn với từng công việc, tạo ra nhiều giá trị cho cộng đồng, xã hội và đất nước. Tăng cường xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, mội một cán bộ, đảng viên thực sự nêu gương và tinh thần phụng sự, mỗi người dân tự nhận thấy mình vừa là chủ thể vừa là động lực của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, sức mạnh Việt Nam sẽ tiếp tục được bồi đắp và phát triển. Đó là cách thiết thực nhất để ngọn lửa Nam Bộ kháng chiến không chỉ được nhắc nhớ, mà tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập 1 (1945-1954), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2010.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tác phẩm “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, ngày 26/9/1945.3.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8 (1945-1947), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 25/11/1945.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
5. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026, về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.
6. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026, về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tác phẩm “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, ngày 26/9/1945.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 25/11/1945.