Dữ liệu số - Tư liệu sản xuất mới trong kỷ nguyên số: Những vấn đề lý luận và thực tiễn từ Nghệ An.
02/10/2026 10:53
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và Internet vạn vật đang làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức sản xuất và quản trị xã hội. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, máy móc, nguyên liệu và năng lượng giữ vai trò trung tâm, thì trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng trở thành yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định năng lực dự báo, tối ưu hóa quy trình, đổi mới sản phẩm và nâng cao hiệu quả ra quyết định. Dữ liệu không còn chỉ là sản phẩm phụ của...
ThS. Phan Văn Ninh
GVC. Khoa Lý luận cơ sở
Tóm tắt:
Trong kỷ nguyên số, dữ liệu trở thành đầu vào quan trọng của sản xuất, kinh doanh và quản trị. Từ góc nhìn kinh tế chính trị Mác – Lênin, dữ liệu có thể được xem như một tư liệu sản xuất mới khi tham gia vào quá trình lao động với vai trò đối tượng lao động, tư liệu lao động hoặc điều kiện sản xuất. Tuy nhiên, dữ liệu không tự tạo ra giá trị; việc chuyển hóa nó phụ thuộc vào lao động, tri thức, công nghệ và hạ tầng. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn Nghệ An, bài viết chỉ ra kết quả bước đầu và các hạn chế về chất lượng, liên thông, sở hữu, an ninh và nhân lực, từ đó đề xuất định hướng phát triển dữ liệu phục vụ quản trị hiện đại và kinh tế số.
Từ khóa: Dữ liệu số; tư liệu sản xuất; lực lượng sản xuất; kinh tế dữ liệu; chuyển đổi số; Nghệ An.
Đặt vấn đề
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và Internet vạn vật đang làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức sản xuất và quản trị xã hội. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, máy móc, nguyên liệu và năng lượng giữ vai trò trung tâm, thì trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng trở thành yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định năng lực dự báo, tối ưu hóa quy trình, đổi mới sản phẩm và nâng cao hiệu quả ra quyết định.
Dữ liệu không còn chỉ là sản phẩm phụ của hoạt động kinh tế – xã hội mà đã trở thành nguồn lực trực tiếp trong nhiều lĩnh vực. Nó được sử dụng để huấn luyện trí tuệ nhân tạo, vận hành hệ thống tự động, xây dựng chính sách công và kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị. OECD khẳng định dữ liệu là nguồn lực kinh tế – xã hội quan trọng trong tạo giá trị và đổi mới sáng tạo, dù việc định lượng giá trị của nó còn nhiều thách thức do đặc tính phi vật chất và khó định giá.
Tại Việt Nam, nhận thức về vai trò của dữ liệu đã được nâng lên rõ rệt. Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đồng thời coi dữ liệu và hạ tầng số là trụ cột chiến lược. Luật Dữ liệu năm 2024 tiếp tục thể chế hóa quan điểm này, xác định dữ liệu là tài nguyên và tài sản cần được quản trị, khai thác hiệu quả. Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030 nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phân tán, cát cứ sang kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu để tạo giá trị mới.
Đối với Nghệ An, phát triển dữ liệu trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và phát triển kinh tế số. Dữ liệu được xác định là nguồn lực chiến lược, nhưng việc khai thác còn đối mặt với nhiều vấn đề về sở hữu, quản trị, an toàn, nhân lực và hạ tầng.
Tuy nhiên, việc coi “dữ liệu là tư liệu sản xuất mới” cần được tiếp cận thận trọng. Cần làm rõ dữ liệu tham gia vào quá trình sản xuất như thế nào, có tự tạo ra giá trị hay không, quyền sở hữu và phân phối lợi ích được xác lập ra sao, và làm thế nào để khai thác dữ liệu hiệu quả mà không dẫn đến độc quyền, xâm phạm quyền riêng tư hay gia tăng bất bình đẳng số. Đây là những vấn đề vừa mang tính lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với sự phát triển của Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
1. Dữ liệu số với tư cách một tư liệu sản xuất mới
1.1. Sự vận động của phạm trù tư liệu sản xuất trong điều kiện kinh tế số
Theo C. Mác, quá trình lao động là sự thống nhất giữa hoạt động có mục đích của con người, đối tượng lao động và tư liệu lao động; trong đó, đối tượng lao động và tư liệu lao động hợp thành tư liệu sản xuất, được con người sử dụng để biến đổi tự nhiên thành giá trị sử dụng mới. Trong lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất, nội hàm của tư liệu sản xuất không ngừng biến đổi theo trình độ kỹ thuật – công nghệ.
Nếu trong kinh tế nông nghiệp, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ thủ công; trong kinh tế công nghiệp là máy móc, nguyên liệu và năng lượng; thì trong kinh tế số, dữ liệu, thuật toán và hạ tầng tính toán trở thành những yếu tố ngày càng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Sự chuyển dịch này phản ánh xu hướng “phi vật chất hóa tương đối” của tư liệu sản xuất, trong đó tri thức và thông tin giữ vai trò ngày càng trung tâm.
Trong cấu trúc đó, dữ liệu thể hiện ba hình thái chức năng cơ bản.
Thứ nhất, dữ liệu là đối tượng lao động khi được thu thập, làm sạch, chuẩn hóa và phân tích. Dữ liệu thô chỉ mang tính tiềm năng; chỉ thông qua hoạt động xử lý của con người và hệ thống kỹ thuật, nó mới chuyển hóa thành thông tin và tri thức có ý nghĩa kinh tế – xã hội.
Thứ hai, dữ liệu là tư liệu lao động khi tham gia trực tiếp vào quá trình nhận diện, dự báo và điều khiển hoạt động sản xuất – quản lý. Các hệ thống bản đồ số, dữ liệu khí tượng, dữ liệu thị trường hay dữ liệu y tế đều đóng vai trò công cụ hỗ trợ ra quyết định và tối ưu hóa quy trình.
Thứ ba, ở cấp độ cao hơn, dữ liệu trở thành điều kiện chung của sản xuất khi được tổ chức thành hạ tầng dữ liệu dùng chung, nền tảng tích hợp và hệ sinh thái liên thông. Tương tự vai trò của điện năng hay giao thông trong công nghiệp hóa, hạ tầng dữ liệu tạo nền tảng kết nối và phối hợp giữa các chủ thể kinh tế – xã hội.
Như vậy, việc coi dữ liệu là tư liệu sản xuất mới không đồng nhất nó với tư liệu vật chất truyền thống, mà là sự mở rộng phạm trù tư liệu sản xuất trong điều kiện lực lượng sản xuất được số hóa, tri thức hóa và tự động hóa sâu sắc.
1.2. Những thuộc tính kinh tế đặc thù của dữ liệu
Dữ liệu mang những đặc tính kinh tế khác biệt so với tài nguyên vật chất truyền thống. Trước hết, dữ liệu có tính không hao mòn trong sử dụng và có thể được sao chép với chi phí cận biên gần bằng không, cho phép nhiều chủ thể khai thác đồng thời. Giá trị của dữ liệu vì vậy không cố định mà phụ thuộc vào bối cảnh, mục đích và năng lực phân tích.
OECD nhấn mạnh dữ liệu có tính không cạnh tranh tương đối, khả năng tạo ngoại ứng và hiệu ứng quy mô; giá trị của dữ liệu tăng mạnh khi được kết hợp, liên thông và tái sử dụng trong các hệ thống khác nhau. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận dữ liệu có thể bị giới hạn bởi quyền sở hữu, công nghệ kiểm soát hoặc vị thế độc quyền nền tảng.
Từ đó hình thành mâu thuẫn cơ bản giữa tính xã hội của quá trình sản sinh dữ liệu và tính tư nhân của cơ chế chiếm hữu và kiểm soát dữ liệu. Dữ liệu thường được tạo ra từ hoạt động của số đông, nhưng lại có xu hướng tập trung vào một số chủ thể có năng lực công nghệ và hạ tầng vượt trội. Điều này làm nảy sinh vấn đề phân phối quyền lực kinh tế trong nền kinh tế số.
Do đó, vấn đề dữ liệu không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay pháp lý, mà thực chất là một biểu hiện mới của quan hệ sản xuất, liên quan đến quyền truy cập, quyền kiểm soát và quyền hưởng lợi từ nguồn lực dữ liệu.
2. Thể chế dữ liệu số và thực tiễn tại Nghệ An
2.1. Những bước phát triển trong thể chế dữ liệu của Việt Nam
Quyết định số 142/QĐ-TTg ngày 2-2-2024 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030 xác định dữ liệu là nguồn tài nguyên mới, yếu tố then chốt của chuyển đổi số quốc gia và cơ sở tạo ra giá trị mới. Chiến lược yêu cầu phát triển hạ tầng dữ liệu, hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, thúc đẩy kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu và hình thành thị trường dữ liệu có sự quản lý của Nhà nước.
Luật số 60/2024/QH15,có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, tạo lập khung pháp lý tổng thể về xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý và sử dụng dữ liệu. Luật phân định các loại dữ liệu, quy định trách nhiệm bảo đảm chất lượng, kết nối và chia sẻ dữ liệu; đồng thời xác lập quyền của chủ sở hữu dữ liệu đối với dữ liệu là một dạng quyền tài sản theo pháp luật dân sự.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1-1-2026, tiếp tục bổ sung cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền riêng tư trong môi trường số. Việc phát triển và khai thác dữ liệu vì vậy phải tuân thủ đồng thời hai yêu cầu: thúc đẩy chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu để tạo giá trị và bảo đảm dữ liệu cá nhân không bị thu thập, xử lý, trao đổi trái pháp luật.
Đáng chú ý, ngày 14-7-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045. Việc ban hành chiến lược mới cho thấy chuyển đổi số đang được chuyển sang giai đoạn phát triển sâu hơn, trong đó dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng số và năng lực quản trị số tiếp tục giữ vai trò nền tảng.
Nhìn tổng thể, thể chế dữ liệu của Việt Nam đang phát triển theo ba hướng chủ yếu: phát triển dữ liệu thành tài nguyên và tài sản; thúc đẩy kết nối, chia sẻ để tạo giá trị; bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh dữ liệu và chủ quyền quốc gia. Vấn đề quyết định trong giai đoạn hiện nay là tổ chức thực thi ở các địa phương, nơi trực tiếp tạo lập, cập nhật và sử dụng phần lớn dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp.
2.2. Những kết quả bước đầu tại Nghệ An
Nghệ An đã sớm xác định chuyển đổi số là một nhiệm vụ chiến lược. Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 5-8-2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu và dịch vụ số đồng bộ, kết nối với Trung ương; mở rộng xử lý công việc trên môi trường mạng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong doanh nghiệp và các lĩnh vực dịch vụ thiết yếu.
Trên cơ sở đó, tỉnh đã triển khai các kế hoạch về chính quyền số, hạ tầng số, dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu dân cư, đô thị thông minh và an toàn thông tin. Kế hoạch chuyển đổi số năm 2025 đặt ra yêu cầu triển khai các cơ sở dữ liệu dùng chung trên nền tảng điện toán đám mây, mở rộng mạng truyền số liệu chuyên dùng và tăng độ phủ 4G, 5G tại khu dân cư, khu công nghiệp và điểm du lịch.
Sau ba năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, Nghệ An đã hoàn thành 11/11 mục tiêu về chính quyền số, 5/6 mục tiêu về kinh tế số và 3/3 mục tiêu về xã hội số theo báo cáo của cơ quan chuyên môn của tỉnh. Chính quyền số được xác định là lĩnh vực triển khai mạnh, tạo nền tảng thúc đẩy kinh tế số và xã hội số.
Bước phát triển quan trọng được tạo ra khi ngày 25-6-2026, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 2799/QĐ-UBND phê duyệt Chiến lược dữ liệu tỉnh Nghệ An đến năm 2030. Chiến lược chính thức xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, tài sản, tư liệu sản xuất mới và nguồn lực phát triển mới; phát triển dữ liệu được tổ chức theo 10 trụ cột trong một chỉnh thể thống nhất.
Việc ban hành Chiến lược dữ liệu đánh dấu sự chuyển biến từ tư duy “ứng dụng công nghệ thông tin” sang “quản trị và phát triển dựa trên dữ liệu”. Tuy nhiên, từ định hướng chính sách đến năng lực khai thác thực tế vẫn còn khoảng cách đáng kể, đòi hỏi tỉnh phải giải quyết đồng thời các vấn đề thể chế, hạ tầng, nhân lực và quan hệ lợi ích.
3. Những vấn đề đặt ra
Thứ nhất, dữ liệu còn phân tán, cát cứ theo ngành do tình trạng cát cứ dữ liệu, hạn chế chia sẻ giữa một số cơ quan, lĩnh vực, gây trùng lặp và hạn chế chia sẻ, trong khi giá trị dữ liệu chỉ phát huy khi được kết nối và tái sử dụng.
Thứ hai, chất lượng dữ liệu chưa đồng đều, còn sai lệch, thiếu chuẩn hóa và chậm cập nhật, làm giảm hiệu quả quản lý và khả năng ứng dụng công nghệ.
Thứ ba, quyền sở hữu và khai thác dữ liệu chưa rõ ràng, dễ dẫn đến xung đột lợi ích giữa cơ quan thu thập, cá nhân và doanh nghiệp; nếu đóng kín sẽ hạn chế đổi mới, nếu buông lỏng sẽ xâm phạm quyền riêng tư.
Thứ tư, năng lực khai thác dữ liệu còn yếu, chủ yếu dừng ở báo cáo hành chính, thiếu nhân lực phân tích và dự báo phục vụ ra quyết định.
Thứ năm, nguy cơ độc quyền và phụ thuộc công nghệ, khi doanh nghiệp nền tảng nắm giữ dữ liệu quan trọng, trong khi thiếu tiêu chuẩn mở và cơ chế giám sát.
Thứ sáu, rủi ro an ninh và quyền riêng tư gia tăng, đòi hỏi bảo vệ dữ liệu phải được thiết kế ngay từ đầu, không chỉ xử lý khi có sự cố.
Thứ bảy, khoảng cách số gây bất bình đẳng trong tiếp cận dữ liệu, nhất là giữa đô thị và miền núi, khiến nhiều nhóm yếu thế khó khai thác giá trị từ dữ liệu.
Những vấn đề trên cho thấy phát triển dữ liệu không đơn thuần là xây dựng kho lưu trữ hay đầu tư phần mềm. Đây là quá trình điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể, hoàn thiện thể chế sở hữu và chia sẻ, tổ chức lại quy trình quản lý, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm phân phối hợp lý lợi ích do dữ liệu tạo ra.
4. Định hướng phát triển dữ liệu thành nguồn lực mới của Nghệ An
4.1. Nâng cao nhận thức và hoàn thiện thể chế quản trị dữ liệu
Trước hết, cần thống nhất nhận thức về vai trò của dữ liệu trong đổi mới quản trị, coi đây là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, không chỉ của cơ quan chuyên trách chuyển đổi số. Người đứng đầu các cơ quan, địa phương phải chịu trách nhiệm về chất lượng, chia sẻ và hiệu quả sử dụng dữ liệu; kết quả quản trị dữ liệu cần được đưa vào tiêu chí đánh giá, xếp loại.
Đồng thời, cần hoàn thiện khung quản trị dữ liệu thống nhất toàn tỉnh, xác định rõ chủ thể, quyền sở hữu, cơ quan quản lý, mục đích và phạm vi sử dụng dữ liệu. Xây dựng từ điển dữ liệu dùng chung, mã định danh thống nhất, danh mục dữ liệu gốc và cơ chế điều phối liên ngành để bảo đảm đồng bộ và tránh cát cứ dữ liệu.
4.2. Tập trung phát triển dữ liệu trọng tâm và hệ sinh thái dữ liệu mở
Cần chuyển từ số hóa dàn trải sang ưu tiên các bộ dữ liệu có giá trị cao, phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế – xã hội như đất đai, quy hoạch, doanh nghiệp, lao động, nông nghiệp, y tế, giáo dục, du lịch và logistics. Đây là nhóm dữ liệu nền tảng để hỗ trợ quản lý và ra quyết định.
Song song, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu mở có kiểm soát. Dữ liệu không thuộc phạm vi bí mật cần được công bố theo chuẩn mở để tăng minh bạch và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhưng phải đi kèm phân loại, ẩn danh hóa và kiểm soát rủi ro nhằm bảo đảm an toàn và quyền riêng tư.
4.3. Phát triển kinh tế dữ liệu và mô hình ứng dụng theo ngành
Thí điểm các mô hình kinh tế dữ liệu gắn với lợi thế của tỉnh. Trong nông nghiệp, tích hợp dữ liệu đất đai, thời tiết, dịch bệnh và thị trường để tối ưu sản xuất. Trong du lịch, khai thác dữ liệu hành vi và dòng khách để phát triển sản phẩm và quảng bá điểm đến. Trong logistics, sử dụng dữ liệu giao thông, kho bãi và nhu cầu vận tải để tối ưu chuỗi cung ứng.
4.4. Phát triển nhân lực và hợp tác công – tư trong khai thác dữ liệu
Phát triển nhân lực dữ liệu theo nhiều tầng, từ chuyên gia kỹ thuật đến cán bộ quản lý và công chức cơ sở có khả năng sử dụng dữ liệu trong công việc. Đồng thời, xây dựng mạng lưới liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ dữ liệu.
Đẩy mạnh hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng và nền tảng dữ liệu, nhưng phải bảo đảm không tư nhân hóa quyền kiểm soát dữ liệu công. Hợp đồng hợp tác cần quy định rõ quyền sở hữu, tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo mật và khả năng chuyển giao, đồng thời ưu tiên kiến trúc mở để tránh phụ thuộc nhà cung cấp.
4.5. Bảo đảm quyền con người, đo lường hiệu quả và công bằng xã hội
Bảo vệ quyền và lợi ích của người dân trong toàn bộ vòng đời dữ liệu, từ thu thập, xử lý đến chia sẻ, bảo đảm nguyên tắc minh bạch, đúng mục đích và quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân. Niềm tin xã hội là điều kiện để phát triển dịch vụ số bền vững.
Xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả đầu tư dữ liệu dựa trên giá trị thực tiễn như giảm thời gian xử lý thủ tục, tăng mức độ tái sử dụng dữ liệu, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng ra quyết định, thay vì chỉ đo bằng hạ tầng kỹ thuật.
Cuối cùng, phát triển dữ liệu phải gắn với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm người dân vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã được tiếp cận và hưởng lợi từ dữ liệu, qua đó thu hẹp khoảng cách phát triển số.
Kết luận
Dữ liệu số đang trở thành yếu tố quan trọng trong lực lượng sản xuất hiện đại. Từ góc nhìn kinh tế chính trị Mác – Lênin, dữ liệu có thể được xem là tư liệu sản xuất mới khi tham gia vào quá trình lao động với vai trò đối tượng lao động, tư liệu lao động và điều kiện chung của sản xuất. Tuy nhiên, dữ liệu không tự tạo ra giá trị; con người, tri thức, công nghệ và tổ chức xã hội mới là yếu tố quyết định việc chuyển hóa dữ liệu thành giá trị kinh tế – xã hội.
Đối với Nghệ An, Chiến lược dữ liệu đến năm 2030 mở ra cơ hội chuyển từ quản lý hồ sơ phân tán sang quản trị dựa trên dữ liệu, từ số hóa hành chính sang phát triển kinh tế dữ liệu. Tuy vậy, tỉnh cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về chất lượng, liên thông, sở hữu, an ninh, nhân lực và năng lực khai thác dữ liệu.
Xét đến cùng, hiệu quả phát triển dữ liệu không nằm ở quy mô lưu trữ hay số lượng nền tảng, mà ở mức độ dữ liệu góp phần nâng cao năng suất, cải thiện quản trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phục vụ đời sống nhân dân. Đây là điều kiện để dữ liệu thực sự trở thành tư liệu sản xuất mới và nguồn lực phát triển bền vững của Nghệ An trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. C. Mác và Ph. Ăngghen. (1993). Toàn tập, tập 23. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 9-1-2025 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
4. Mitchell, J., Ker, D., & Lesher, M. (2021). Measuring the economic value of data. OECD Going Digital Toolkit Notes, No. 20. OECD Publishing.
5. OECD. (2022). Going Digital to Advance Data Governance for Growth and Well-being. Paris: OECD Publishing.
6. Quốc hội. (2024). Luật Dữ liệu, Luật số 60/2024/QH15 ngày 30-11-2024.
7. Quốc hội. (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật số 91/2025/QH15 ngày 26-6-2025.
8. Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 142/QĐ-TTg ngày 2-2-2024 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030.
9. Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14-7-2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045.
10. Tỉnh ủy Nghệ An. (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 5-8-2022 về chuyển đổi số tỉnh Nghệ An đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
11. UBND tỉnh Nghệ An. (2026). Quyết định số 2799/QĐ-UBND ngày 25-6-2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu tỉnh Nghệ An đến năm 2030.
12. World Bank. (2021). World Development Report 2021: Data for Better Lives. Washington, DC: World Bank.