Đại thắng mùa xuân 1975-Giá trị bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
29/04/2026 06:31
Đại thắng mùa Xuân 1975 là dấu mốc đặc biệt rực rỡ trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam, khép lại thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội...
TS. Thái Doãn Việt
GVC. Phòng Tổ chức - Tổng hợp
Tóm tắt: Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ và chính là nhân tố nền tảng làm nên thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân 1975. Cội rễ của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng chính là từ những di sản quý báu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong bối cảnh mới và đề xuất các giải pháp nhằm củng cố đồng thuận xã hội, nâng cao hiệu lực quản trị và thúc đẩy đất nước phát triển trong kỷ nguyên vươn mình.
Từ khóa: Đại đoàn kết; Hồ Chí Minh; Mùa Xuân 1975; Sức mạnh dân tộc.
1. Mở đầu
Đại thắng mùa Xuân 1975 là dấu mốc đặc biệt rực rỡ trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam, khép lại thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vĩ đại đó không chỉ bắt nguồn từ đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng mà còn là sự kết tinh ở mức cao nhất của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - yếu tố giữ vai trò quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán khẳng định đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nguồn sức mạnh vô cùng to lớn của dân tộc. Thực tiễn Đại thắng mùa Xuân 1975 đã chứng minh một cách thuyết phục và sinh động giá trị bền vững của tư tưởng đó trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và đứng trước nhiều thời cơ, thách thức đan xen, việc tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn là yêu cầu mang tính chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Vì vậy, nghiên cứu, vận dụng bài học từ Đại thắng mùa Xuân 1975 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng lý luận của thắng lợi cách mạng Việt Nam
Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng chiến lược xuyên suốt, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn lịch sử dân tộc và kinh nghiệm phong phú của phong trào cách mạng thế giới, Người khẳng định một chân lý có tính quy luật: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”[1], và được cô đọng trong luận điểm nổi tiếng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Đây không chỉ là lời kêu gọi mà còn là kết luận mang tính tổng kết thực tiễn sâu sắc của cách mạng Việt Nam.
Trước hết, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử. Người luôn khẳng định nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là cội nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng. Từ đó, Người chỉ rõ rằng mọi đường lối, chủ trương của Đảng chỉ có thể đi vào cuộc sống và đạt được kết quả khi thực sự xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, đồng thời biết dựa vào nhân dân, phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong tổ chức và thực hiện. Xác định được vai trò và vị trí của nhân dân, Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[2]. Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã chứng minh rằng, khi toàn dân tộc được tập hợp, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, thì sức mạnh đó có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách, làm nên những thắng lợi mang tính lịch sử.
Một nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là xác định đúng nền tảng và lực lượng của khối đoàn kết. Theo Người, đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là lực lượng nòng cốt, bảo đảm tính vững chắc và định hướng đúng đắn của khối đoàn kết. Tuy nhiên, tư tưởng của Người không dừng lại ở đó mà còn thể hiện tính mở rộng và bao dung sâu sắc khi chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, quá khứ hay thành phần xã hội, miễn là cùng hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính quan điểm này đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, được hiện thực hóa thông qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh, sau này là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - hình thức tổ chức tiêu biểu của khối đại đoàn kết.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn luận giải đại đoàn kết như một phương pháp cách mạng khoa học. Theo Người, đoàn kết không phải là sự hòa đồng giản đơn, mà phải được xây dựng trên cơ sở hài hòa lợi ích, tôn trọng sự khác biệt và hướng tới mục tiêu chung. Người nhấn mạnh cần kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa sức mạnh nội sinh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, giữa độc lập, tự chủ với đoàn kết quốc tế. Đây là điểm đặc sắc trong tư duy của Hồ Chí Minh, thể hiện tầm nhìn chiến lược và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Một phương diện quan trọng khác là yêu cầu xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết trên cơ sở niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, coi đó là nền tảng bền vững của khối đoàn kết. Người nhấn mạnh: cán bộ, đảng viên phải gần dân, trọng dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân; đồng thời, phải chống các biểu hiện quan liêu, xa dân, làm tổn hại đến khối đoàn kết. Thực tiễn cho thấy, ở đâu mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân được củng cố, ở đó khối đại đoàn kết được tăng cường và trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển.
Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh tiếp tục giữ nguyên giá trị định hướng. Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ thể hiện ở sự thống nhất về mục tiêu phát triển mà còn ở sự đồng thuận xã hội, sự tham gia tích cực của nhân dân vào quản lý nhà nước và đời sống xã hội. Đó chính là nền tảng chính trị – xã hội bền vững, bảo đảm cho sự ổn định, phát triển lâu dài và từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là một giá trị lý luận sâu sắc mà còn là định hướng hành động có ý nghĩa lâu dài đối với cách mạng Việt Nam. Việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng này là yêu cầu có tính chiến lược, góp phần củng cố sức mạnh toàn dân tộc, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.
3. Đại thắng mùa Xuân 1975 - biểu hiện tiêu biểu của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vai trò then chốt, phản ánh sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là thắng lợi của đường lối chiến lược đúng đắn mà còn là kết tinh của ý chí, niềm tin và sức mạnh toàn dân tộc được quy tụ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ nhất, đó là sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Sự thống nhất về mục tiêu - giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - đã trở thành điểm hội tụ của ý chí dân tộc, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, chi phối toàn bộ quá trình tổ chức và triển khai cuộc kháng chiến. Đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn đã phát huy tối đa vai trò của quần chúng, biến mỗi người dân thành một chiến sĩ, mỗi làng xã thành một pháo đài, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, linh hoạt và bền vững. Chính sự thống nhất về ý chí và hành động đã tạo nên ưu thế vượt trội, giúp cách mạng Việt Nam chuyển hóa tiềm lực thành sức mạnh hiện thực, làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường.
Thứ hai, sức mạnh đại đoàn kết được phát huy trên phạm vi cả nước, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế mà còn là chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần cho cách mạng miền Nam. Với tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, miền Bắc đã huy động cao nhất mọi nguồn lực để chi viện cho tiền tuyến, đồng thời kiên cường chống lại chiến tranh phá hoại. Ở miền Nam, nhân dân đã phát huy truyền thống yêu nước, kiên cường bám đất, bám làng, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và binh vận, từng bước làm tan rã hệ thống kìm kẹp của đối phương. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai miền đã tạo nên thế trận toàn dân vững chắc, bảo đảm cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và ít tổn thất.
Thứ ba, đại đoàn kết toàn dân tộc còn được mở rộng thành sức mạnh của đoàn kết quốc tế, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Sự ủng hộ đó không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần, tạo nên thế chính nghĩa và sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế, góp phần làm suy yếu ý chí xâm lược của đối phương và tăng cường vị thế của cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế.
Đỉnh cao của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện tập trung trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Khi thời cơ chiến lược chín muồi, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã đồng loạt hành động với quyết tâm cao nhất, tạo nên sức mạnh áp đảo, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian ngắn, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi đó là minh chứng hùng hồn cho giá trị hiện thực to lớn của tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời khẳng định đây là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam trong mọi giai đoạn phát triển.
4. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học từ Đại thắng mùa Xuân 1975, việc củng cố và phát huy khối đại đoàn kết cần được triển khai đồng bộ, toàn diện trên cả phương diện nhận thức và hành động.
Thứ nhất, quán triệt tầm nhìn và định hướng phát triển của Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết, chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện các quan điểm, định hướng và nhiệm vụ trọng tâm do Đại hội XIV của Đảng đề ra. Trong đó, việc củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là tiền đề để xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc. Niềm tin ấy không thể chỉ hình thành từ lời nói hay tuyên truyền, mà phải được kiểm chứng bằng hiệu quả thực chất hoạt động của hệ thống chính trị. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước liêm chính, kiến tạo hướng tới phát triển toàn diện, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân; đồng thời kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy. Khi niềm tin được củng cố trên cơ sở thực tiễn, khối đại đoàn kết sẽ được tăng cường cả về chiều sâu lẫn sức lan tỏa.
Thứ hai, việc phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong quản lý xã hội là nội dung trọng tâm của đại đoàn kết trong bối cảnh hiện nay. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, tạo điều kiện để nhân dân tham gia một cách thực chất vào các khâu xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách. Quyền làm chủ của nhân dân phải được bảo đảm đầy đủ và đi vào thực chất. Đồng thời, cần chú trọng công tác dân vận, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; qua đó tăng cường khối đại đoàn kết, tạo sự thống nhất và đồng thuận xã hội, đồng thời khơi dậy, phát huy hiệu quả các nguồn lực từ nhân dân cho sự phát triển đất nước.
Thứ ba, tăng cường đoàn kết giữa các vùng, miền, dân tộc, tôn giáo trên cơ sở hài hòa lợi ích và bảo đảm công bằng xã hội. Trong điều kiện phát triển còn có sự chênh lệch, việc thu hẹp khoảng cách phát triển, chăm lo đời sống nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội mà còn là yếu tố trực tiếp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, tiếp tục khẳng định và phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội trong việc quy tụ, đoàn kết và vận động các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào các phong trào, nhiệm vụ phát triển của đất nước. Thông qua các hình thức hoạt động linh hoạt, thiết thực, các tổ chức này cần làm tốt vai trò trung tâm phối hợp hành động, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần tạo dựng sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn xã hội.
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện hội nhập quốc tế, kiên định thực hiện: “tự chủ chiến lược” theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Việc tranh thủ các nguồn lực bên ngoài về vốn, khoa học - công nghệ, tri thức quản trị hiện đại cần được gắn với giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ để nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường kết nối xã hội và phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp xã. Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, nhất là ở cơ sở, bảo đảm gần dân, trọng dân, vì dân phục vụ. Đồng thời, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Như vậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa định hướng chiến lược và các giải pháp cụ thể, giữa xây dựng niềm tin, phát huy dân chủ và nâng cao hiệu quả quản trị. Đó là nguồn động lực then chốt, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình phát triển ổn định, lâu dài của đất nước trong giai đoạn mới.
5. Kết luận
Đại thắng mùa Xuân 1975 là minh chứng tiêu biểu cho sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những bài học về phát huy nguồn lực đó không chỉ có giá trị trong thời chiến mà còn tiếp tục giữ ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.
Với ý nghĩa đó, trong bối cảnh mới, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tiếp tục là nhân tố quyết định để củng cố nền tảng chính trị - xã hội, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.14, tr.186.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr.453.