Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Quán triệt và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào dạy và học lý luận chính trị hiện nay

Tác giả : Bùi Văn Năm - Gv Khoa Triết - CNXHKH
File đính kèm: Không có

Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của  cách mạng Việt Na , là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin  vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”.
Trong đó, tư tưởng về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nội dung quan trọng .
Vào cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam ách thống trị của bọn thực dân Pháp và địa chủ phong kiến hết sức tàn ác, nặng nề. Nhân dân ta phải sống cảnh bần cùng, nước mất nhà tan.
Vốn có một truyền thống bất khuất được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân ta không chịu sống kiếp nô lệ đã vùng dậy đấu tranh. Trong mấy chục năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước dâng lên mạnh mẽ từ Bắc đến Nam, các hình thức đấu tranh lần lượt được khảo nghiệm. Nhưng do không có đường lối đúng đắn, tất cả các phong trào đấu tranh của quần chúng, kể cả phong trào công nhân đều bị đế quốc Pháp cấu kết với địa chủ phong kiến tay sai dìm trong biển máu. Tình hình xã hội Việt Nam lúc này “đen tối nhưng không có đường ra”.
Ra đi tìm đường cứu nước từ 1911, Hồ Chí Minh trước hết muốn tìm xem những gì ẩn dấu sau những từ “tự do, bình đẳng, bác ái” của người Pháp mà Người được biết trên ghế nhà trường. Đến Pháp rồi đi qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, dừng chân ở các cảng của Angiêri, Tuynidi, Công gô, Đahômây, Xênêgan,….vượt Đại tây Dương đến nước Mỹ…Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề, Người đã chứng kiến nỗi thống khổ của những người lao động thuộc các màu da. Sống làm việc ở Anh, Pháp, Mỹ - những đế quốc đầu sõ lúc đó Người càng hiểu sâu hơn nỗi thống khổ của nhân dân lao động ngay tại các nước đi áp bức các dân tộc khác. Thực tế đã giúp Người hiểu rằng các cuộc cách mạng tư sản Âu Mỹ đã phá bỏ gông xiềng của chế độ phong kiến, nêu cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, nhưng giai cấp tư sản độc chiếm thành quả cách mạng, tiếp tục nô dịch cả nhân dân lao động ở chính quốc và nhân dân thuộc địa.
Tiếp cận Chủ nghĩa Mác- Lênin, khảo cứu các cuộc cách mạng Âu Mỹ, Người đã chỉ ra rằng “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào ? lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông ”.
 Khi bắt gặp luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh khẳng định: Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta. Từ đó Người đi đến kết luận: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Chỉ có Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới ” (1) .
Đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh luôn là sự vận dụng, phát triển sáng taọ Chủ nghĩa Mác- Lênin phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn của đất nước.
 Trong tiến trình cách mạng nhất là ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định như khi chuẩn bị tổng khởi nghĩa trong cách mạng tháng Tám - 1945 hay những năm tháng cam go của kháng chiến chống Mỹ sau này. Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh quyền lợi dân tộc lên trên hết, trước hết… Nghị quyết Hội nghị BCH TW lần thứ tám -1941 dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh đã xác định “trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quôc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toà thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (2). Bởi vì “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc ”(3).
Từ sự phân tích trên cho chúng ta thấy: Để giải quyết những vấn đề thực tiễn đúng hướng, có hiệu quả, tránh mò mẫm thì phải có lý luận khoa học hướng dẫn, chỉ đạo. Sức mạnh, sức sống của lý luận là ở chỗ gắn bó hữu cơ với thực tiễn, được kiểm nghiệm, sửa đổi bổ sung và phát triển thành thực tiễn.
Hồ Chí Minh không chỉ là hình mẫu kết tinh đỉnh cao trong nắm vững bản chất lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam mà còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn dẫn đến hai sai lầm cực đoan là bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.
Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể.
Bệnh giáo điều thường biểu hiện dưới các dạng sau:
- Bệnh sách vở, nắm ký luận chỉ dừng ở câu chữ theo kiểu “Tầm chương trích cú ”, không nắm được thực chất khoa học của lý luận, không tiêu hoá được kiến thức sách vở.
- Coi những nguyên lý lý luận như những tín điều, không thấy được sức sống của lý luận  là ở chỗ phải luôn luôn sửa đổi, bổ sung, phát triển tên cơ sở thực tiễn mới.
- Vận dụng lý luận và những kinh nghiệm đã có một cách rập khuôn, máy móc, không tính đến điều kiện lịch sử - cụ thể, đến trình độ của thực tiễn.
Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học.
Bệnh kinh nghiệm ở nước ta thường biểu hiện :
- Thoả mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, ngại học lý luận, không chịu nâng cao trình độ lý luận.
- Tiếp xúc với lý luận ở trình độ tư duy kinh nghiệm từ đó giản đơn hoá, thông tục hoá, kinh nghiệm hoá lý luận. Cố gắng “đẽo gọt” lý luận cho vừa với khuôn khổ, kích thước kinh nghiệm của mình.
- Coi thường lý luận, không tin vào lý luận và không chịu khó vận dụng lý luận vào thực tiễn.
Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là do sự yếu kém về lý luận. Sự yếu kém về lý luận sẽ không tránh được bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn đến bệnh giáo điều. Bởi vì, chính sự yếu kém về lý luận làm cho chúng ta dễ tiếp thu lý luận một cách giản đơn, phiến diện, cắt xén, không đến nơi đến chốn hoặc chỉ dừng lại ở câu chữ, sách vở. Chính vì vậy, để khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, phương hướng quan trọng hàng đầu là nâng cao trình độ lý luận của Đảng, của cán bộ, đảng viên./.

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập, t10, tr128, H, 1995
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, t 7, tr113. Nxb CTQG, H, 2000)
3. C.Mác – F.Ăngghen . toàn tập, t4, tr623, 624, Nxb CTQG, H,  1995

Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn