Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Quán triệt và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy môn lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam trong chương trình Trung cấp lí luận chính trị.

Tác giả : Th.s Dương Thanh Bình - Gv Khoa Xây dựng Đảng
File đính kèm: Không có

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý giá của Đảng và dân tộc ta, là nguồn gốc dẫn đến những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
 Lịch sử Đảng là môn khoa học nghiên cứu về Đảng cộng sản Việt Nam, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của Đảng ta. Trong đó tập trung làm rõ quá trình hoạch định đường lối và lãnh đạo thực hiện đường lối cách mạng của Đảng ta qua các thời kỳ khác nhau. Nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cần làm sáng rõ vai trò của Hồ Chí Minh trong quá trình hoạch định đường lối và thực hiện đường lối của Đảng ta với tư cách vừa là nhà tư tưởng vừa là người lãnh đạo của cách mạng Việt Nam.
 I. Trước hết về giảng dạy phần cách mạng dân tộc dân chủ trong lịch sử Đảng, cần quán triệt các quan điểm nội dung cơ bản sau đây trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
 1. Làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh trong việc xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam.
 Vấn đề hàng đầu của một Đảng cách mạng xác định đường lối chiến lược, vấn đề hàng đầu của một dân tộc là xác định con đường phát triển của quốc gia dân tộc mình. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam rơi vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo.
 Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tinh thần yên nước sâu sắc, Hồ Chí Minh đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Sau một hành trình đầy khó khăn và thử thách, cuối cùng Người đã tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn. Người đã khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
 Nhưng cứu nước, giải phóng dân tộc theo "con đường cách mạng vô sản" là gì ? những nét cơ bản của nó ra sao ?. Người dạy cần làm rõ điều này.
 Con đường cách mạng Việt Nam, trước hết, đó là con đường cách mạng không ngừng: tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, hay nói cách khác: Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
 Con đường vô sản - con đường Hồ Chí Minh, đó là đưa cách mạng Việt Nam vào trào lưu thời đại, gắn cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, với trào lưu cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới, xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Phải kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế.
 Con đường cách mạng Hồ Chí Minh, đó là sự khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng thuộc về giai cấp công nhân, thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, người đại diện chân chính duy nhất lợi ích của giai cấp công nhân của dân tộc và của toàn thể nhân dân dân Việt Nam.
 Con đường cách mạng Hồ Chí Minh, đó là thực hiện cuộc cách mạng của đa số dân chúng chứ không phải của thiểu số; cách mạng phải làm sao để "quyền giao cho dân chúng số nhiều"; cuộc cách mạng phải dựa vào công nhân và nông dân vì “công nông là gốc cách mạng”. Trên cái nền gốc vững bền ấy mà thực hiện đại đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu, vô địch.
 Thực tiễn lịch sử cho thấy, con đường cách mạng Việt Nam được Hồ Chí Minh phát hiện, được Đảng ta sớm xác định và được dân tộc Việt Nam lựa chọn là con đường hoàn toàn đúng đắn, đi theo con đường này cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.
 Giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, bài “Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam”, cần nhấn mạnh vai trò và công lao của Hồ Chí Minh trong việc tìm ra con đường cứu nước và phát triển dân tộc đúng đắn. Đồng thời cũng cần phân tích làm rõ tính khoa học và thực tiễn của con đường mà Hồ Chí Minh đã xác định cho cách mạng Việt Nam.  
 2. Làm rõ tư tưởng và vai trò của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Những cống hiến và đóng góp của Hồ Chí Minh vào lý luận xây dựng chính đảng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến.
 Trước hết cần quán triệt những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, với đặc trưng là một chính đảng vô sản ra đời từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu.
  Hồ Chí Minh khẳng định Cách mạng muốn thành công "trước hết cần phải có Đảng cách mạng".
  Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
 Xuất phát từ tình hình Việt Nam đang là một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Hồ Chí Minh thấy rằng việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây, nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé, phong trào công nhân còn non yếu. Do đó, phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân; phong trào này diễn ra rất lâu trước khi có phong trào công nhân và giai cấp công nhân. Phong trào yêu nước là một trong những nhân tố kết hợp để dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây cũng là quy luật đặc thù của quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là một sáng tạo to lớn của Hồ Chí Minh về xây dựng chính đảng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu. Khái quát về quy luật đặc thù của việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: "Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam" (1)
 Mặt khác cũng cần phải thấy rằng thông qua quá trình xác định con đường cách mạng Việt Nam và quá trình chuẩn bị thành lập Đảng cũng đã cho thấy Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo trong khi vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp.
 Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội, từ giác ngộ dân tộc đi đên giác ngộ giai cấp, kết hợp giác ngộ dân tộc với giác ngộ giai cấp trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là con đường Hồ Chí Minh đã đi. Đó cũng là con đường mà những người cộng sản Việt Nam đã đi. Đây cũng là điểm khác biệt so với những nước đã trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
 Những quan điểm nói trên của Hồ Chí Minh được thể hiện trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong việc định hướng đúng đắn và thúc đẩy phong trào cách mạng. Ở một nước thuộc địa, chủ nghĩa Mác-Lênin phải được truyền bá vào phong trào công nhân, đồng thời trong phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân đông đảo, có như vậy nó mới có thể cắm rễ vào mảnh đất hiện thực, mới có sức sống mạnh mẽ và bền vững.
 Ngay cả đối với các nước tư bản phát triển, Mác và Ăngghen đã nêu trong "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản", giai cấp công nhân không phải xa rời dân tộc, mà phải vươn lên thành dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "cần phải nhân danh chủ nghĩa cộng sản mà phát động phong trào dân tộc", "chủ nghĩa dân tộc là một động lực mạnh mẽ" (2).
 Vận dụng những quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh, người dạy mới làm cho người học hiểu được vì sao, Nguyễn Ái Quốc đã xác định tên Đảng Cộng sản Việt Nam khi thành lập, ngày 3-2-1930. Nhưng sau đó, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, tên Đảng được đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương. Và qua nhiều lần đến năm 1976, Đảng Cộng sản Việt Nam mới trở lại cái tên lúc đầu đã được Nguyễn Ái Quốc xác định.
 Và ngay cả sự vận động của lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1930-1941 cũng đã chứng tỏ những quan điểm đúng đắn trên của Nguyễn Ái Quốc đã được lịch sử Việt Nam kiểm nghiệm là hoàn toàn đúng đắn, mặc dù đã có lúc người bị hiểu lầm, bị đánh giá là nặng nề về dân tộc, nhẹ về giai cấp, là người dân tộc chủ nghĩa.
 Cùng là cách nhận thức và  giải quyết vấn đề giai cấp và dân tộc nêu trên, cũng là cơ sở để Hồ Chí Minh xây dựng chiến lược đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, một nhân tố quan trọng, quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khởi đầu từ tổ chức Hội phản đế đồng minh Đông Dương từ ngày 18-11-1930 cho đến Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
 Sau khi Đảng ta đã giành được chính quyền, vấn đề xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền trở nên mối quan tâm sâu sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Kể từ năm 1945 cho đến lúc qua đời, trong suốt 24 năm ở cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn luôn luôn lo lắng làm sao để chống nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hoá, biến chất của một Đảng cầm quyền.
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, giáo dục đạo đức cách mạng "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" cho cán bộ, đảng viên. Người cùng toàn Đảng tiến hành chiến đấu liên tục, không mệt mỏi chống lại ba thứ giặc "nội xâm"; phá hoại Đảng từ bên trong, là các căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu. Trên thế giới, chưa từng có một đảng cầm quyền nào đã đề ra yêu cầu cho đảng mình như Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (3).
 Luận điểm "Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân" là luận điểm hoàn toàn mới về lý luận xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền. Trong phong trào cộng sản quốc tế, chưa một Đảng chân chính nào đề ra một yêu cầu như vậy.
 Theo Hồ Chí Minh, một đảng mạnh không phải ở số đông, mà ở sự đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động, trong một tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh, tự giác. Trong công tác xây dựng Đảng, Người luôn nhấn mạnh các nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và phê bình - tự phê bình. Trước khi qua đời, Người căn dặn lại trong Di chúc: "Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng" (4)
 Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, một biểu hiện khá tiêu cực, khá phổ biến của cán bộ lúc đó là sau một thời gian công tác gian khổ ở nông thôn, rừng núi, nay có chiều "muốn nghỉ ngơi", "muốn vào thành phố". Hồ Chí Minh phê bình cán bộ được cử vào tiếp quản Thủ đô chỉ lo thắc mắc về quần áo đẹp, lương bổng, tương lai, tiền đồ mà không thắc mắc "khi về xuôi thì đạo đức, nhân cách của mình phải thế nào ?". "Về xuôi, Bác chỉ nói vài cái nhỏ: phở ngon, rồi thì đồng hồ, bút máy, xe đạp, ... Lương không đủ thì sẽ lấy ở đâu? lúc ấy chỉ có hai cách: một là ăn cắp của chính phủ, hai là nị tiền mua chuộc" ... Người đã sớm tiên lượng: "Có thể những người khi cuộc kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi". Vì vậy, người căn dặn: "muốn giữ nhân cách, tránh khỏi hủ hoá, thì phải luôn thực hành 4 chữ mà Bác thường nói. Đó là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính" (5).
 Để Đảng thực sự là hiện thân của trí tuệ của giai cấp và dân tộc, "Đảng phải tự nâng mình lên hơn nữa "sao cho ngang tầm với trí tuệ của thời đại, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chống thói kiêu ngạo, lười biếng, phải có lòng cầu tiến bộ, ai làm nghề gì cũng phải học nghề ấy, "cách mạng là một nghề, làm nghề gì cũng phải học", "học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức, ... là những việc cần kíp của Đảng" (6)
 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền là một đóng góp mới, làm phong phú học thuyết Lênin về xây dựng Đảng, là một di sản quý báu, là kim chỉ nam cho chúng ta đổi mới và chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo của mình trong thời kỳ lịch sử mới.
 3. Làm rõ vai trò của Hồ Chí Minh với những quyết định lịch sử, quyết định chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam.
 - Hồ Chí Minh với quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, dẫn đến thắng lợi của cách mạng Tháng Tám.
 - Hồ Chí Minh với quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc, cuộc chiến tranh nhân dân, chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp xâm lược, điểm xuất phát đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến.
 - Thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền trong một nước, do một Đảng lãnh đạo là sáng tạo lý luận độc đáo chưa có trong tiền lệ lịch sử của Hồ Chí Minh và Đảng ta, là nguồn gốc quan trọng dẫn tới thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
 Giáo sư Nhật Bản Singô Sibata nhận xét: "Một trong những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành chiến tranh nhân dân ... Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này" (7).
 II. Giảng dạy phần cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn quán triệt tư tưởng sau đây của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội  ở Việt Nam.
 1. Trước hết cần quán triệt những quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
 Hồ Chí Minh không có định nghĩa về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với những tiêu chí đầy đủ, toàn diện, hoàn chỉnh của một mô hình lý tưởng được xây dựng trong tư tưởng, nhận thức để "bắt thực tiễn phải khuôn theo", như Mác - Ăngghen đã từng phê phán. Hồ Chí Minh trong thực tiễn chỉ đạo công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc nước ta, ở những thời điểm khác nhau, Người đã nêu lên những quan niệm về chủ nghĩa xã hội.
 Trả lời câu hỏi chủ nghĩa xã hội là gì ? Người diễn giải:
 - "Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh" (8). "Nói 1 cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc"(9).  Tóm lại, " xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội" . "Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người, các dân tộc, ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng" (10).
 Muốn có chủ nghĩa xã hội ta phải làm gì ? Người nói "Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất để nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất. Sản xuất  là mặt trận chính của chúng ta hiện nay ... Tất cả chúng ta, ở bất kỳ cấp nào, ngành nào đều phải góp sức làm cho sản xuất phát triển" (11).
 Quan điểm cơ bản này một thời đã không được quán triệt đầy đủ, làm cho một thời gian dài sản xuất bị đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Để tìm ra lối thoát phải làm cho sản xuất "bung ra". Bước đột phá, báo hiệu sự nghiệp đổi mới, lần đầu tiên đi vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (khoá IV) năm 1979 của Đảng ta là điều khẳng định: "tiêu chuẩn cao nhất để phân biệt chính sách đúng hay sai là có hay không đảm bảo phát triển sản xuất và nâng cao đời sống dân chúng". Quan điểm đó, trên thực tế, phản ánh sự trở về với tư tưởng trên của Hồ Chí Minh.
 - Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do dân là chủ, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
 - Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao.
 - Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hoá, đạo đức.
 - Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng và hợp lý.
 - Chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng.
 Tóm lại, chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một xã hội giàu có, dân chủ, đạo đức và văn minh, xã hội tự do, nhân đạo, phản ánh được khát vọng tha thiết của loài người. Vì vậy, để giữa độc lập, tự chủ, để đảm bảo cho nhân dân một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiến lên chủ nghĩa xã hội.
 Những quan điểm của Hồ Chí Minh trên đây đã từng bước được Đảng ta nhận thức và vận dụng vào quá trình xác định về mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội VII (9/1991) đã nêu lên những đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và được Đại hội X bổ sung với 8 đặc trưng cơ bản:
 - Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là một xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
 - Do nhân dân làm chủ.
 - Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất.
 - Có nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
 - Con người được giải phóng mọi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện.
 - Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
 - Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
 - Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
 Đó cũng chính là kết quả của quá trình đổi mới tư duy và nhận thức lại một cách đúng đắn quan niệm về chủ nghĩa xã hội của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hồ Chí Minh đã căn cứ vào thực tiễn Việt Nam để xây dựng quan niệm và lý giải những vấn đề của phương thức quá độ gián tiếp ở một nước chậm phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội và những tìm tòi lý luận của Người gắn liền với loại hình quá độ này ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó đặc điểm to nhất là đặc điểm "từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa" (12). Đặc điểm này thâu tóm đầy đủ những mâu thuẫn và khó khăn, phức tạp, chi phối toàn bộ tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở quá độ lên chủ +nghĩa xã hội cần dần dần, thận trọng, từng bước một, từ thấp đến cao, không chủ quan nóng vội; sự tuần tự của các bước đi do điều kiện khách quan quy định. Phải tiến nhanh, tiến mạnh nhưng không làm bừa, làm ẩu, mà phải hợp lòng dân.
Về độ dài của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh khẳng định là một thời kỳ lịch sử lâu dài và đầy khó khăn, vì "xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc chiến đấu khổng lồ, để xoá bỏ những cái gì cũ kỹ, hư hỏng, xây dựng những cái gì mới mẻ tốt tươi" (13), "Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩa và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới ... phải dần dần biến nước ta từ một nước lạc hậu thành một nước công nghiệp" (14).
Như vậy, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến những khó khăn, phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Tiếc rằng, trong quá trình lãnh đạo xác định con đường lên chủ nghĩa xã hội có nhiều lúc chúng ta đã rơi vào chủ quan, duy ý chí, đốt cháy giai đoạn muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội khi chưa có đủ những tiền đề cần thiết. Phải đến Đại hội V, Đảng ta mới xác định về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Tức là xác định con đường lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều chặng đường, bước đi khác nhau.
  Trong các bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến vai trò của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, coi đó là con đường phải đi của chúng ta", nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
 Cùng với bước đi, Hồ Chí Minh đã gợi ý nhiều phương thức, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các biện pháp chính được Người thường sử dụng:
 - Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính.
 - Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có biện pháp, kế hoạch; kế hoạch một thì biện pháp phải mười, hai mươi để thực hiện thắng lợi kế hoạch.
 - Trong điều kiện nước ta, biện pháp cơ bản quyết định lâu dài trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là đem của dân, tài dân, sức dân, làm lợi cho dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
 Hồ Chí Minh cho rằng, phải huy động hết tiềm năng, nguồn lực có trong dân để đem lại lợi ích cho dân. Nói cách khác phải biết biến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo. Vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền là tập hợp lực lượng, đề ra đường lối, chính sách để huy động và khai thác triệt để các nguồn lực của dân, vì lợi ích của quần chúng lao động. 
 Trên cơ sở những quan điểm chỉ dẫn của chủ tịch Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được Đảng ta ngày càng xác định rõ hơn. Đại hội X đã xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phải:
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
- Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của toàn xã hội.
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
- Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.
- Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
- Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia.
Tóm lại, với tư cách là một bộ phận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, việc quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy lịch sử Đảng là một tất yếu. Trong đó cần tập trung làm rõ những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa trở thành cơ sở nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng ta và nguồn gốc quan trọng dẫn tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặt khác, trong khi quán triệt vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không nên xa rời đối tượng môn học Lịch sử Đảng, đồng thời cũng phải thấy rằng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng cũng có quá trình hình thành và phát triển của nó, do đó cần phải quán triệt nguyên tắc lịch sử cụ thể, tránh hiện đại hoá tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t10, tr8.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t1, tr466.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t12, tr510.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t12, tr510
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t7, tr245-347.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t6, tr167.
7. Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H,1976, tr244-245.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t8, tr226
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t9, tr17
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t10, tr591; 317.
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t10, tr312.
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t10, tr13.
13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t12, tr505.
14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t8, tr493.

Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn