Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Các giá trị tinh thần thời kỳ Đại Việt qua dẫn liệu ngôn ngữ văn học

Tác giả : Trần Viết Linh
File đính kèm: Không có

      Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội. Đây là một thành tựu lớn về lý luận của Đảng, là sự tiếp thu những thành tựu của tư duy nhân loại trong những năm cuối thế kỷ XX và là kết quả của sự tổng kết thực tiễn trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Để hiểu rõ quan điểm trên đây, chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm tòi và nhận biết nền văn hóa truyền thống đã biểu hiện như một nội lực cố kết cộng đồng, giúp dân tộc ta vượt qua những thử thách nghiệt ngã.
      1.Giá trị tinh thần -  một nội dung cơ bản của văn hóa
      Văn hóa là gì? câu hỏi đó đã được đặt ra từ lâu với tư duy nhân loại; từ cách tiếp cận khác nhau đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
      Ở Phương Đông, từ văn hóa xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ Trung Quốc. Ngay từ trước công nguyên, ở đời Tây Hán, Lưu Hương đã viết "Bậc thánh nhân trị thiên hạ trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực", như vậy khái niệm văn hóa ở đây được dùng để đối lập với vũ lực.
      Ở Phương Tây, trong nền văn minh cổ đại Hy Lạp, từ văn hóa (cultura) có nghĩa là trồng trọt cây cối, sau dần dần biến thành ươm mầm, trồng trí tuệ con người.
      Như vậy, trong quan niệm của người cổ đại (dù Phương Đông hay Phương Tây) văn hóa đã mang ý nghĩa giáo hóa con người.
      Sự xuất hiện sớm từ "văn hóa" trong ngôn ngữ các dân tộc khẳng định văn hóa là hoạt động xuất hiện sớm. Hiện tiếng Việt cổ chưa cung cấp cho chúng ta những tư liệu đầy đủ về tiếng nói của ông cha từ xa xưa, nhưng ít ra bằng văn bản, chúng ta cũng dã biết cách chúng ta 600 năm, trong bài Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã dõng dạc tuyên bố: 
      "Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu ". 
      Từ văn hiến ở đây ở một khía cạnh nào đó đồng nghĩa với văn hóa. Vậy văn hóa là gì ? Để có một định nghĩa đầy đủ về văn hóa, cách tốt nhất là gắn văn hóa với con người và qua phân tích, minh chứng… phần lớn chúng ta thống nhất:
      - Văn hóa trước hết là hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực của con người hướng tới chân, thiện, mỹ.
      - Văn hóa là giá trị
      - Văn hóa là môi trường
      Có lẽ cũng từ nội dung trên mà nguyên Tổng Giám đốc UNESCO - Federico Mayor định nghĩa: Văn hóa là "tổng thể các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
      Như vậy đề cập đến vấn đề "các giá trị tinh thần" thực chất là chúng ta đang đề cập đến một nội dung cơ bản của văn hóa; đề cập đến vấn đề "các giá trị tinh thần thời kỳ Đại Việt" thực chất là chúng ta đang đề cập đến một nội dung cơ bản của "văn hóa thời kỳ Đại Việt". Một trong những con đường để chúng ta thực hiện mục đích trên đó là thông qua dẫn liệu ngôn ngữ nói chung trong đó có ngôn ngữ văn học nói riêng.
      2. Khái quát các giá trị tinh thần thời kỳ trước thời kỳ Đại Việt
      Nhìn lại quá trình lịch sử, từ thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc với bốn tác phẩm văn học:
      - Truyện họ Hồng Bàng nói về nguồn gốc dân tộc;
      - Truyện Thánh Gióng đánh giặc Ân;
      - Truyện thần núi Tản Viên nói về chống lụt;
      - Truyện Rùa vàng giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa.
      Tổng hợp nội dung các huyền thoại này chúng ta thấy thông qua con đường sử dụng văn học (ngôn ngữ văn học) đã làm toát lên một số tư tưởng chính của thời kỳ này là:
      - Thứ nhất, phản ánh ý tưởng về đoàn kết dân tộc xây dựng đất nước.
      - Thứ hai, tinh thần vì nước quên thân.
      - Thứ ba, phản ánh sự tôn thờ những người có công, tức là nói đến đạo lý cuả người Việt cổ.
      Hay nói một cách khái quát, đoàn kết xây dựng đất nước, vì nước quên thân, thờ cúng tổ tiên cùng với những người có công giúp nước đã biểu thị tinh thần yêu nước và cũng chính là giá trị tinh thần của người Văn Lang - Âu Lạc.
      Trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc: Giá trị tinh thần cao nhất của thời kỳ này vẫn là tinh thần yêu nước được nâng lên thành ý thức về chủ quyền dân tộc được thể hiện thông qua việc tổ chức các cuộc khởi nghĩa chống ngoại bang; giữ gìn văn hóa dân tộc, đồng  thời lại sẵn sàng tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nước ngoài để tự làm giàu cho mình, rõ nét nhất là cách ứng xử với ngôn ngữ dân tộc. Người Việt học chữ Hán, nhưng lại đọc bằng tiếng mẹ đẻ, nhờ đó đã hình thành tiếng Hán - Việt, giàu âm điệu đến mức đọc các bài thơ Đường bằng âm Hán -Việt cũng rất du dương...
      Qua các thời kỳ, những giá trị đó được lưu tồn dưới nhiều hình thức, trong đó có nhiều giá trị được phản ánh thông qua hình thức dẫn liệu ngôn ngữ.
      Nhưng, có lẽ các giá trị tinh thần của con người Việt Nam ở các thời kỳ trước, nếu xét về mặt phản ánh của ngôn ngữ văn học thì phải kể đến  thời kỳ Đại Việt.
      Đây là thời kỳ các Vương triều liên tục thay thế nhau xây dựng quốc gia tự chủ; là thời kỳ mà mỗi lần bị xâm lăng là một lần chứng tỏ tinh thần yêu nước bất khuất của cả dân tộc. Có thể khẳng định đây là một động lực tinh thần, kích thích văn hóa Đại Việt vươn lên.
      Những giá trị tinh thần này được phản ánh rõ nét qua những bản thiên cổ hùng văn như: Nam quốc sơn hà... mà Lý Thường Kiệt đã đọc trên sông Như Nguyệt; Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn; Bạch Đằng Giang phú của Trương Hán Siêu; Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi...
      3. Các giá trị tinh thần thời kỳ Đại Việt
      Sau khi Ngô Quyền xưng Vương, đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Bắc thuộc; nhưng tiếp sau đó nhân dân ta còn phải 10 lần đụng độ với phương bắc, trong đó có 9 lần thắng và một lần thua (cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại vào đầu thế kỷ XV).
      Có được sự lớn mạnh đó là nhờ có sự hun đúc tư tưởng yêu nước từ thời kỳ Văn Lang, Bắc thuộc; đến thời kỳ này tư tưởng yêu nước không những là tiếp tục được củng cố vững chắc  mà còn được nâng lên thành hệ tư tưởng yêu nước của nhân dân Đại Việt.
      Hệ tư tưởng này không giống như một số hệ tư tưởng do một chính trị gia, Triết gia nào đó đưa ra mà nó là sản phẩm văn hóa, sản phẩm tinh thần của một dân tộc
Bằng những áng thiên cổ hùng văn của những nhà ái quốc những giá trị tinh thần ấy, những giá trị văn hóa ấy của dân tộc  được khẳng định.
      Năm 1076 trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, để khẳng định tư tưởng và động viên binh lính, Lý Thường Kiệt đã sang sảng cất lên:
                                                   Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                                               Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

      Nghĩa là:
                                       Sông núi nước Nam thì Hoàng đế nước Nam ở
                                                Cương vực đã ghi rõ trong sách trời.
     Với những ngôn ngữ rõ ràng, âm vực chắc nịch câu thơ khẳng định quyền làm chủ của Hoàng đế nước Việt, quyền làm chủ của ngưòi Việt là hợp quy luật, không ai có thể bác bỏ được.
      Rồi tiếp đến:
                                                   Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                                                  Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
       Nghĩa là:
                                        Tại sao lũ giặc ngỗ ngược kia dám tới xâm phạm?
                                            Chúng bay liệu, sẽ chuốc lấy thất bại tơi bời.
       Hai câu thơ khẳng định chính nghĩa nhất định thắng, kẻ xâm lăng nhất định sẽ bị thất bại.
       Qua dẫn liệu của lịch sử ta đã biết: Các vua nước ta đã nhiều lần xưng đế như Lý Bôn xưng là Lý Nam Đế (541 -547), Đinh Bộ Lĩnh được tôn là Đại thắng Minh Hoàng đế, trong khi các triều đại phương Bắc chỉ phong vương thì một lần nữa việc "xưng đế" trong Nam quốc sơn hà...là sự khẳng định mạnh mẽ chủ quyền dân tộc, đặt nước ta ngang hàng với các đế chế Trung hoa.
       Tiếp đến là Hịch tướng sỹ của Trần Hưng Đạo; đây là những áng văn nhấn mạnh ý tưởng vì danh dự đất nước cũng như quyền sống của gia đình mà quyết chiến với giặc Nguyên - Mông xâm lược.
       Và nổi lên là Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi được công bố vào năm 1428 sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn kết thúc thắng lợi. Đây vừa là một bản hùng ca đồng thời qua thi pháp, ngôn từ đã thể hiện hệ tư tưởng yêu nước Đại Việt hoàn thiện ở một tầm cao mới.
        Nối tiếp truyền thống Nam quốc sơn hà thời Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi khẳng định:
                                      Như nước Đại Việt ta từ trước
                                      Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
                                      Núi sông bờ cõi đã chia
                                     Phong tục bắc nam cũng khác
         Để nêu bật tư thế độc lập, tự cường của dân tộc, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi. Đại Việt và Trung Hoa bao đời song song tồn tại
                                    Từ  Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
                        Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
         Như vậy đây không phải là nước "Nam Man" như lối nói kỳ thị của những người nặng đầu óc thực dân phương Bắc, mà là nước có lãnh thổ riêng, có phong tục riêng tức là có văn hóa và ngôn ngữ riêng; tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có và vì là nước văn hiến lâu đời nên ngoại bang đến xâm lăng lần nào cũng nếm mùi thất bại. Nội dung ấy được diễn đạt bằng những vế rất đăng đối. Tuy vậy nghiên cứu về sau ta cảm thấy tác giả đã có phần nhấn mạnh ý thức quật cường, thế trên của dân tộc ta qua những chiến công huy hoàng  "Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô - Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã";
         Với giọng văn đầy hào khí, Nguyễn Trãi dã nêu cao sức mạnh quật cường của dân tộc; qua dẫn liệu này chúng ta thấy nước Đại Việt đã hội đủ các điều kiện để trở thành một dân tộc quốc gia văn hiến. Những điều trên cho ta thấy rõ niềm tin của dân tộc vào cuộc kháng chiến chính nghĩa, niềm tự hào trước truyền thống oanh liệt của dân tộc.
         Bài cáo đưa ra một triết lý chính trị quan trọng:
                                        Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
                                        Lấy chí nhân để thay cường bạo
         Theo quan điểm trên đây thì chống xâm lược là chính nghĩa, cứu dân cứu nước là đại nghiã. Đây có thể xem là một nguyên lý đạo đức, đã góp phần hình thành nên hệ tư tưởng yêu nước truyền thống của nhân dân ta.
          Bài cáo viết: 
                                            Thần vũ không giết
                                           Ta thể lòng hiếu sinh
          Rõ ràng, ta "hiếu sinh" chứ không "hiếu sát". Tư tưởng yêu nước Đại Việt chỉ cốt nhằm giải phóng đất nước đem lại nền độc lập cho dân tộc mà không hướng tới sự trả thù, rửa hận bằng cách giết thật nhiều đối phương; Vì vậy trong chiến đấu thì dũng mạnh kiên cường không tiếc máu xương; nhưng khi giặc đã hàng ta sẵn sàng cấp cho phương tiên, lương thảo để chúng quay về nhà, rút lui trong "danh dự " - đây là tư tưởng khoan dung của người Việt.
          Trong Bình Ngô đại cáo, nổi bật là việc nhấn mạnh đến tư tưởng vì dân; quan tâm trước hết đến đời sống nhân dân, đến hạnh phúc của mọi người. Đây chính là một tư tưởng lớn nhất đã được thiên cổ hùng văn này thể hiện:
                                         Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
                                        Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
          Sau này khi Nguyễn Trãi được chỉ định làm lễ nhạc, ông đã dâng một tờ tấu thể hiện tư tưởng "thân dân", bài tấu có đoạn viết: " Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc là đúng lúc. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn hóa thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần phụng chiếu định ra âm nhạc, không dám không gắng hết tâm lực; song học vấn sơ sài, nông cạn, sợ trong âm thanh luật khó làm được hài hòa. Dám mong bệ hạ rũ lòng thương yêu mà chăn nuôi muôn dân, khiến trong thôn cùng, xóm vắng không còn một tiếng hờn giận, oán sầu, đó là cái gốc của nhạc vậy.."
          Ý tưởng trên đây nối tiếp lời tâm huyết trong di chúc của Trần Hưng Đạo cho Vua Trần: "Khoan thư sức dân. Lấy kế bền gốc sâu rễ là thượng sách giữ nước". Đây chính là tư tưởng chính trị quan trọng trong chính sách quản lý đất nước.
          Tóm lại: Qua ngôn ngữ thể hiện trong một số tác phẩm văn học thời kỳ Lý - Trần - Lê tư tưởng yêu nước Đại Việt dã được phẩn ánh rất rõ nét:
         - Yêu nước, trước hết  cần khẳng định nước ta là một dân tộc, quốc gia văn hiến, có đầy đủ các quyền, ngang hàng với quốc gia dân tộc khác, trước hết là "Bắc quốc".
         - Cơ sở tư tưởng yêu nước thể hiện qua việc tố cáo tội ác dã man của quân xâm lược để nung nấu ý chí căm thù giặc, đồng thời tô đậm những chiến công mà tổ tiên đã giành dược tronh lịch sử để không ngừng nâng cao ý thức tự hào dân tộc
         - Yêu nước đi đôi với xả thân cứu nước kiên quyết giành và giữ vững chủ quyền dân tộc. Đây là nguyên tắc đạo đức trong lối sống của người Đại Việt.
         - Yêu nước là tôn trong sự sống (hiếu sinh) của mình cũng như của người khác, luôn thể hiện tính bao dung của người Việt. Từ đó mục tiêu của cuộc chiến đấu là giành được độc lập cho dân tộc, đem lại hòa bình, hạnh phúc cho muôn dân
         -  Yêu nước còn là yêu dân (thân dân), tức là quan tâm đến đời sống nhân dân, tạo điều kiện giúp họ sống khá hơn. Đây cũng kà kế sách trong trị vì, quản lý đất nước.

         3. Kết luận 
         Nhờ hình thành nền văn học phong phú, mang đậm tính chất dân gian và đặc biệt là nhờ sự hình thành nền văn học yêu nước mà nổi lên là những áng thiên cổ hùng văn (như đã nêu ở trên) nên những giá trị văn hóa nói chung và giá trị tinh thần thời kỳ Đại Việt nói riêng đã được thể hiện và lưu truyền. Đây chính là sức mạnh của lịch sử dân tộc Việt Nam, là sự tự hào là sự tiếp ứng sức mạnh cho các thế hệ. Ngày nay, chính các giá trị tinh thần ấy phải được biến thành xung lực mạnh mẽ, góp phần xây dựng đất nước ./.

Chú thích: Bài viết này có sử dụng tư liệu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn