Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

NHỚ LẠI BÀI GIẢNG ĐẦU TIÊN KHI VÀO NGHỀ DẠY HỌC

Tác giả : Trần Trọng Quế - T K LL Mác- Lênin, TT Hồ Chí Minh
File đính kèm: Không có

Một ngày cuối tháng 6 năm 1979, tôi về nhận công tác tại Trường Đảng Trần Phú Nghệ - Tĩnh. Ấn tượng đầu tiên đối với tôi khi bước đến trường là những ngôi nhà cấp 4 màu ngói còn tươi, xây cách đều nhau trên một vùng đất rộng. Phía trước mỗi ngôi nhà là những vườn rau xanh tốt. Con đường bao quanh trường và các sân nhà chưa được rãi bê tông, nhưng tất cả đều sạch sẽ, sáng sủa hiện lên một môi trường văn hoá tốt. Sau vai ngày ổn định nơi ở, gặp phòng hành chính mượn một số đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt, tôi được mời đến dự buổi họp với anh em Khoa Triết học. Trong cuộc họp đó, ông Ngô Xuân Lan – trưởng khoa đã giới thiệu ngắn gọn một số tình hình chung về nhà trường, về khoa. Tiếp sau, ông nói với tôi, đã nhận làm giáo viên thì đương nhiên phải giảng dạy, việc đó tiến hành càng sớm bao nhiêu càng tốt cho bản thân bấy nhiêu, đừng nên ngần ngại. Là người được học lý luận triết học, hẳn anh biết câu nói “muốn tập bơi thì nhảy xuống nước”. Cuối buổi họp, ông trưởng khoa yêu cầu tôi đăng ký nhận bài để soạn giảng. Thời gian giảng là trung tuần tháng 10 tới. Cuộc họp diễn ra mau lẹ, mỗi việc đều được giải quyết nhanh và chính xác, hình dung như mệnh lệnh của một trận đánh, chỉ khác, nó rất nhẹ nhàng. Nhận bài giảng, tôi ý thức rắng, từ đây tôi bước sang giai đoạn thể nghiệm kết quả quá trình 4 năm học tập ở trường của tôi và tôi phải hết sức cố gắng. Sau thời gian hơn 2 tháng, tôi chỉ phải soạn 1 bài giảng. Tôi còn nhớ như in, buổi thông qua bài giảng của tôi, ngoài 4 thành viên của khoa, còn có ông Đinh Văn Dung phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn của trường và có một đại diện phòng giáo vụ cùng tham dự. Là “lính mới” chưa có kinh nghiệm soạn bài, tôi đã viết giáo án bài “Phép biện chứng duy vật” dài 54 trang ( ước chừng tương đương với 30 trang đánh máy vi tính hiện nay) và tôi đã phải đọc khoảng 2 giờ mới hết. Đọc xong, tôi hồi hộp chờ nghe lời nhận xét của các thành viên trong cuộc họp. Mọi người đều góp ý cho giáo án của tôi. Có những ý kiến đi vào những điểm chi tiết, cũng có ý kiến mang tính khái quát các vấn đề. Cuối cùng, ông trưởng khoa kết luận: Giáo án được chuẩn bị khá công phu, nhiều tư liệu được đưa vào bài giảng; các nguyên lý, lý luận của bài đã được nêu và phân tích kỹ. Bước đầu soạn bài như thế là được. Tuy vậy, giáo án cần sửa chữa mấy điểm: - Một số đề mục phân chia qúa tỷ mỹ, không những rườm rà khó nhớ mà việc cắt chia như vậy dễ rơi vào siêu hình, cần phân chia gọn hơn, bao quát hơn. - Nội dung bài còn nặng về lý luận, các dẫn chứng thực tế để minh hoạ cho phần lý luận còn hạn chế, cần cố gắng tìm thêm các dẫn chứng trong đời sống xã hội để bổ sung cho nội dung giáo án. Thật ra, bản thân tôi cũng như phần lớn các sinh viên mới ra trường bước vào làm nhiệm vụ giảng dạy sẽ còn thiếu rất nhiều yếu tố và nhất là vốn tri thức thực tế cuộc sống, vì đã̃ được trải nghiệm nhiều đâu mà có được những tri thức ấy. Cho nên, giáo án nặng về lý luận sách vở, thiếu tri thức thực tế là điều không tránh khỏi và cần phải được chỉ rõ để khắc phục. Kết thúc buổi họp, tôi về phòng riêng với tâm trạng đan xen giữa chút tự tin và băn khoăn lo lắng. Nhìn lại thời gian hơn 2 tháng soạn bài, tôi đã tìm đọc các giáo trình triết học của Liên Xô, của Trung Quốc ( những giáo trình đó được dịch sang tiếng Việt), giáo trình cao cấp của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương ( sau này gọi là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ), các tạp chí triết học và nhiều tài liệu của Đảng cộng sản Viết Nam. Đã thay đi đổi lại bao nhiều đoạn, bao nhiêu dòng trong bản giáo án. Vậy mà, xem ra bài soạn giảng chưa ổn, cần phải chỉnh sửa lại nhiều vấn đề cả nội dung và hình thức. Đến đây tôi càng thám thía hơn những khó khăn của người làm công tác giảng dạy và nhất là giảng dạy lý luận chính. Từ những lời góp ý chân thành của anh em, tôi tiếp tục chỉnh sửa lại bài và phải mất hơn 10 ngày nữa mới xong. Tôi đưa cho ông trưởng khoa xem tiếp. Hai ngày sau, ông trả lại giáo án cho tôi và lưu ý tôi sửa thêm một vài chi tiết mà theo ông là chưa thật chuẩn. Đồng thời ông nhắc tôi đọc kỹ giáo án để có thể nhớ chi tiết, tự tập giảng nhiều lần cho quen và hãy chuẩn bị tốt về tâm lý, tạo sự bình tĩnh, tự tin ngay từ trước khi giảng. Rồi ông cười và đọc câu thơ “ vững niềm tin sẽ nắm chắc thành công” của nhà thơ Tố Hữu. Đến một ngày của tháng 10 năm 1979 ( tôi không nhớ chính xác là ngày nào), tôi bước lên bục trình bày bài giảng tại lớp khoá 5. Đây là lớp đào tạo giáo viên cho các trường đảng huyện, hình thức đào tạo chính quy, thời gian đào tạo 2 năm, học viên có trình độ tốt nghiệp THPT, tất cả là đảng viên, tuổi đời hầu hết từ 22 đến 27 tuổi. Trong buổi giảng đó, vẫn có sự hiện diện của các thành viên trong khoa và ông phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn của trường lên nghe, theo giỏi. Mặc dù khi học ở trường, tôi đã có những lần tập giảng trước lớp học của tôi và có giáo viên của trường hướng dẫn; cuối khoá học còn đi thực tập sư phạm 3 tháng ở thành phố Thái Nguyên, nhưng tôi vẫn thấy hồi hộp và thiếu tự tin trong buổi giảng này. Nhưng cái gì đến nó phải đến, thời gian cứ trôi qua, tiết một rồi tiết hai,... sau mỗi tiết giảng tôi lại trở nên tự tin hơn, bình tĩnh hơn, diễn đạt vấn đề rõ ràng, mạch lạc hơn và sau 3 buổi, tôi hoàn thành được bài giảng. Mấy ngày sau, đến lượt khoa góp ý cho bài giảng của tôi. Lần này vẫn có ông phó hiệu trưởng tham dự. Sau nhiều ý kiến trao đổi, ông trưởng khoa kết luận: nhìn chung bài giảng đạt yêu cầu, nội dung lý luận cũng như thực tiễn không có gì sai kiến thức cơ bản, đã đưa ra được một số dẫn chứng mang tính thời sự gây hấp dẫn. Tuy nhiên, bài giảng còn nặng về lý luận, các dẫn chứng thực tế đời sống xã hội còn ít. Về phương pháp, lời nói rõ ràng mạch lạc, âm thanh vừa phải, dẫn dắt các vấn đề tương đối hợp lý, nhưng tốc độ nói hơi nhanh, nói hơi nhiều, viết bảng chưa đẹp. Cuối cùng ông nói: buổi đầu lên lớp như vậy là được, nhưng cần phải cố gắng nhiều, nhất là tìm các thông tin từ thực tiễn cuộc sống để minh hoạ cho lý luận, nhằm thực hiện tốt hơn nữa nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy chính trị. Ông phó hiệu trưởng và anh em trong khoa đều nói lời chúc mừng tôi. Còn tôi, trong niềm xúc động đã bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ của anh em trong khoa, của giám hiệu nhà trường. Thế là tôi đã bước được bước đầu tiên trên con đường vào nghề dạy học. Nỗi lo sợ với cái nghề phải đứng trước nhiều người để giảng giải các vấn đề lý luận phức tạp phần nào đã vơi đi. Rồi theo thời gian và trách nhiệm, số bài giảng khoa phân cho tôi mỗi năm một nhiều hơn. Tôi vẫn chuẩn bị giáo án một cách cần mẫn và thận trọng. Quy trình giúp đỡ của khoa triết - nhất là ông trưởng khoa và của lãnh đạo nhà trường cho mỗi bài giảng của tôi cũng như của những anh em giáo viên khác vẫn bài bản, chu tất. Điều đó thực sự gây ấn tượng sâu sác trong đời dạy học của tôi - ấn tượng về tinh thần trách nhiệm của Khoa Triết học, của lãnh đạo Trường Đảng Trần Phú Nghệ - Tĩnh đối với việc đào tạo, dìu dắt giáo viên. Tôi coi đó là một ân tình và tôi luôn ghi nhớ ân tình ấy!
Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn