Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Chức năng phương pháp luận của Triết học Mácxít trong hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn

Tác giả : Th.s Nguyễn Thị Kim Oanh - Gv.khoa Lí luận Mác-Lê nin, TT HCM
File đính kèm: Không có

Triết học Mácxít là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác.Khác với chủ nghĩa duy vật của thế kỷ XVIII mà những thiếu sót cơ bản nhất là siêu hình, máy móc, không biết áp dụng phép biện chứng vào quá trình nhận thức và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội, chủ nghĩa duy vật của C.Mác và PH.Ăngghen đã khắc phục được những thiếu sót ấy, phát triển triết học duy vật lên trình độ cao hơn. Thành quả đó chính là những nguyên lý và quy luật của phép biện chứng duy vật nói chung và chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng. Có thể khẳng định rằng, cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều đóng vai trò là lý luận vì các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật cũng như của phép biện chứng trước hết đều là sự phản ánh khái quát quá trình vận động và phát triển của hiện thực vì: lý luận về phép biện chứng bao gồm: các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật được giải thích một cách biện chứng.Chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng, trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động trong không gian và thời gian; ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh tự giác ít nhiều tích cực các sự vật và quá trình hiện thực của thế giới vật chất.Trong quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái thứ nhất, là cái quyết định và tồn tại độc lập với ý thức nhưng ý thức cũng có sự tác động trở lại đối với vật chất nên thông qua hoạt động con người, ý thức có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất. Nguyên lý của phép biện chứng cũng đã được giải thích trên lập trường duy vật. Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển với nội dung: mỗi kết cấu vật chất đề có vô số mối liên hệ qua lại với các sự vật, các hiên tượng; tất cả mọi sự vật cũng như sự phản ánh của chúng trong bộ óc con người đều ở trong trạng thái biến đổi và phát triển không ngừng. Quá trình đó diễn ra theo các quy luật biện chứng. Trong đó, nguồn gốc của sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ngay trong lòng sự vật; cách thức của sự phát triển đó là sự chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất; Chiều hướng của sự phát triển này là sự vận động theo đường xoáy trôn ốc chứ không phải theo đường thẳng. Sự phản ánh của những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa duy cật và phép biện chứng là sự phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ phổ biến nhất của hiện thực khách quan. Đây chính là sự định hướng rất quan trọng cho con người trong nhận thức cũng như trong mọi hoạt động thực tiễn của mình. Nó giúp cho con người khi tiến hành nghiên cứu và cải biến sự vật thấy trước được phương thức vận động của đối tượng, nghĩa là giúp con người có được phương hướng đặt vấn đề cũng như giải quyết vấn đề, tránh được sự mò mẫm hay những lầm lạc giữa vô số các mối liên hệ chằng chịt, chồng chéo mà không có tư tưởng dẫn đường. Nó khác với những khoa học chuyên ngành khác ở chỗ không chỉ có tác dụng định hướng trong một phạm vi nhất định mà là trong mọi trường hợp. Ví dụ, có người cho rằng, muốn loại trừ tôn giáo thì chỉ cần sử dụng quyền lực trong tay chính quyền thì có thể cấm đoán được nhưng thực ra thì không đơn giản như thế bởi vì chúng ta biết tôn giáo là một trong những hình thái ý thức xã hội, nó xuất hiện và tồn tại do những nguyên nhân khác nhau mà trong các xã hội có giai cấp thì nguyên nhân chủ yếu là ở sự áp bức xã hội . Vì vậy, cần phải tìm cách giải quyết từ những nguyên nhân vật chất đã sản sinh ra nó. Như vậy, chúng ta cần phải giải quyết vấn đề trên lập trường duy vật nghĩa là coi vật chất là cái có trước và quyết định ý thức. Điều này chứng tỏ rằng, triết học gắn bó mật thiết với đời sống, với thực tiễn. Đó là cái chỉ đạo cho con người hành động một cách đúng đắn, khách quan, có định hướng. Sẽ là sai lầm khi nghĩ rằng, để giải quyết những vấn đề cụ thể của đất nước đang đặt ra chỉ bằng cách lao mình vào hoạt động thực tiễn và chỉ nhìn vào thực tiễn để có câu trả lời thỏa đáng vì triết học chỉ nghiên cứu những vấn đề quá chung, quá rộng lớn, không thiết thực. Bởi vì không thể giải quyết những vấn đề cụ thể trong cuộc sống mà lại lảng tránh những cái chung liên quan đến các vấn đề cụ thể đó. Nếu không giải quyết vấn đề chung thì dễ sa vào sự mò mẫm, tùy tiện. Xét đến cùng thì những chính sách lớn đều có tính nguyên tắc là rất thực tế. Ví dụ, bây giờ chúng ta đang rất quan tâm đến việc xác định cho đúng những khả năng hiện tại đang có cũng như tiềm tàng của đất nước. Nếu không đánh giá đúng sẽ dẫn tới việc sai lầm, chủ quan, nóng vội, duy ý chí khi đề ra phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển (đề ra những nhiệm vụ, chỉ tiêu của kinh tế quá cao) đồng thời nó sẽ dẫn tới việc bảo thủ,trì trệ trong việc đánh giá và vận dụng các khả năng khác. Vậy là phải xác định đúng các khả năng và khai thác hết những khả năng, mặt khác phải bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên biết phát hiện và khai thác những tiềm năng của đất nước cũng như địa phương. Song, lại cần giải quyết một cách khoa học, nghĩa là lại cần phải xác định: thế nào là khả năng? Phân biệt như thế nào khả năng với hiện thực? Làm sao để phát hiện cho đúng khả năng? Cần tìm khả năng ở đâu? Cái gì làm nảy sinh khả năng? (Cấu trúc của sự vật, điều kiện khách quan, những yếu tố chủ quan, những quy luật tác động đến sự phát triển của nó hay những mâu thuẫn nào trong bản thân sự vật). Khi giáo sư Michael E.Porter sang Việt nam, ông nói rằng tại sao Việt nam lại không tập trung hết sức vào việc khai thác thế mạnh của mình - thế mạnh của Việt Nam bây giờ là dệt may và vận tải biển. Điều này cũng buộc chúng ta phải suy nghĩ cho một định hướng chiến lược về kinh tế của mình vì theo GS thì đừng bao giờ hy vọng là mình sẽ cạnh tranh được khi không đủ lợi thế mà tốt nhất là hãy làm cho mình "độc nhất vô nhị". Điều này cũng có nghĩa là phải xác định đúng khả năng và biết cách khai thác khả năng đó trong hiện thực. Như vậy, đây là những vấn đề phương pháp luận chung, trước hết là những vấn đề của triết học. Bằng việc làm sáng tỏ những vấn đề trên, người làm triết học sẽ góp phần tích cực vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách trong cuộc sống. Tuy nhiên, triết học không phải là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề bởi vì ngoài việc nắm bắt các quy luật và các mối liên hệ chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy thì còn cần phải nắm bắt được các tri thức cụ thể nữa. Nếu không, sẽ không tránh khỏi những sai lầm giáo điều do áp dụng một cách máy móc các nguyên lý, quy luật chung vào những trường hợp cụ thể rất khác nhau. Vì vậy, mỗi nguyên lý chung đều phải được xem xét theo quan điểm lịch sử (tuy nhiên, không hiểu vì lí do gì mà trong giáo trình triết học chương trình trung câp lý luận chính trị không thấy đề cập đến quan điểm này). Nếu thiếu sự hiểu biết về thực tế sinh động diễn ra ở từng địa điểm, thời gian hay trong từng lĩnh vực hoạt động nhất định thì việc vận dụng các nguyên lý không những không có kết quả mà còn có thể mắc sai lầm nghiêm trọng. Chung quy lại, để có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cụ thể hết sức phức tạp và đa dạng trong cuộc sống thì cần tránh cả 2 thái cực sai lầm: một là xem thường triết học dẫn tới việc sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời làm mất phương hướng, không thể nhìn xa trông rộng, thiếu sự chủ động và sáng tạo trong công tác. Hai là, tuyệt đối hóa vai trò của triết học sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể . Việc kết hợp chặt chẽ tri thức triết học và tri thức thực tiễn là tiền đề hết sức quan trọng cho mỗi người trên những cương vị công tác, đảm bảo cho sự thành công trong các hoạt động cụ thể của mình./.
Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn