Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm ở xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An

Tác giả : Bùi Văn Năm - Gv. Khoa LL Mác – Lênin – TT Hồ Chí Minh
File đính kèm: Không có

Xã Nghĩa Long nằm cách trung tâm huyện Nghĩa Đàn 15km về phía Tây Nam; phía Đông giáp Đông Hiếu xã Nghĩa Thuận, phía Bắc giáp xã Nghĩa Hòa; phía Tây giáp xã Nghĩa Khánh. Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.182,96ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 493,93ha, đất lâm nghiệp 514,4ha, đất phi nông nghiệp 167,9ha, đất chưa sử dụng 6,73ha. Xã được phân chia thành 12 xóm, với tổng số hộ là 752 hộ, 3525 nhân khẩu trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 73,4%. Tổng số lao động 2.174 người, chiếm 61,7% tổng số nhân khẩu của xã. Số lao động người dân tộc 1058 người bằng 49% tổng số lao động của xã. Tổng số lao động đã qua đào tạo là 143 người (trong đó: số người có trình độ đại học là 64 người, cao đẳng 20 người, trung cấp 24 người, công nhân kỹ thuật 35 người). Những năm qua, xã Nghĩa Long đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết việc làm. Từ năm 2008 đến hết năm 2010 toàn xã đã tạo được 758 chỗ việc làm mới cho người lao động. Trong đó, số việc làm mới ở trên địa bàn của xã là 168 chỗ, số việc làm ở các tỉnh khác trong nước là 500 chỗ, số việc làm mới ở nước ngoài là 90 chỗ. Nhờ đó, tỉ lệ hộ nghèo từ 40,3% năm 2005 xuống còn 16% năm 2010, nông hộ giảm từ 7% năm 2005 lên 18,5% năm 2010. Cơ cấu sản xuất đã chuyển dịch theo hướng tích cực giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp – ngư nghiệp – lâm nghiệp từ 62,79% năm 2009 và 39,2% năm 2010; Thương mại – dịch vụ từ 20,18% năm 2008 lên 25% năm 2010. Giá trị sản lượng bình quân đầu người liên tục tăng lên: Từ 8,345 triệu đồng/năm của năm 2008 lên 10,156 triệu đồng năm 2009 và 12,340 triệu đồng năm 2010. Bảng tổng hợp số liệu báo cáo qua các năm Danh mục Năm 2008 Năm 2009 6 tháng đầu năm 2010 giá trị Tỉ lệ giá trị Tỉ lệ giá trị Tỉ lệ (triệu đồng) (triệu đồng) (triệu đồng) - Tổng giá trị sản xuất 28.827 35.290,813 21.721,161 Trong đó: + Nông – Lâm – Ngư nghiệp 18.515 62,79 17.520,813 50,72 9.038,161 41,6 + Công nghiệp – Xây dựng 4.908 17,03 9.970 35,2 8.504 39,2 + Thương mại – Dịch vụ… 5.632 20,18 7.800 14,04 1.179 19,2 - Giá trị sản lượng bình quân đầu người/năm 8,345 10,156 12,340 Tuy nhiên, công tác giải quyết việc làm của xã Nghĩa Long vẫn đang đứng trước những khó khăn, bất cập. - Thứ nhất: Công tác giáo dục – đào tạo nghề cho nông dân chưa được coi trọng và đầu tư thỏa đáng. Phần lớn lao động nông nghiệp hiện nay chưa được đào tạo nghề, vẫn là lao động giản đơn, sản xuất theo kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau là chủ yếu. Như ở Nghĩa Long mới có 143 người/tổng số lao động. Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật thấp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo của một bộ phận nông dân. Chất lượng lao động thấp đã cản trở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn. Nếu xét riêng lực lượng lao động đã qua đào tạo nghề cũng chưa phù hợp cả về cơ cấu ngành nghề lẫn yêu cầu của thực tiễn sản xuất. Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật thấp là nguyên nhân chính hạn chế cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nông thôn cả ở thị trường lao động trong nước lẫn thị trường lao động ngoài nước. Theo báo cáo của xã Nghĩa Long: Qua 3 năm từ 2008 – 2010 có 90 lao động đi làm ở nước ngoài (trong đó ở lào 79 người, cộng hòa Séc 3 người, Đài Loan 8 người), nhưng phần lớn là chưa có nghề, nên chỉ đi buôn phế liệu, chăn vịt, làm thuê chăm sóc ông bà già ở Đài Loan, Lào… nên thu nhập thấp và không ổn định, không học được kỹ thuật, công nghệ quản lý mới từ các nước… để phát triển đất nước. Số lao động cử đi học nghề ở các tỉnh phía Nam để phục vụ cho các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, do trình độ học vấn thấp nên tay nghề thực tế kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh nên cũng gây lãng phí cho người lao động. Số lao động đi làm dịch vụ, làm thuê ở các tỉnh phía Nam phần lớn là lao động thủ công, chưa qua đào tạo nên thu nhập thấp và bấp bênh. - Thứ hai: - Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đóng trên địa bàn xã chưa nhiều, mang tính thời vụ, thu nhập thấp, không ổn định – Đây cũng là một khó khăn cho doanh nghiệp và cho người lao động. Vì khi doanh nghiệp cần lao động, thì số lao động bận việc nhà nông, thu hoạch nên doanh nghiệp cũng khó khăn trong sản xuất. Mặt khác làm trong các doanh nghiệp mang tính thời vụ, thu nhập thấp nên số lao động này vẫn không mặn mà, đặc biệt là lớp trẻ. - Thứ ba: Ngành nghề truyền thống không có, nên mở các lớp dạy nghề như thêu ren, đan lát .v.v. cho lớp trẻ cũng khó khăn. - Thứ tư: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã còn yếu, đường giao thông, quy hoạch khu dân cư, đồng ruộng manh mún, chưa cải tạo, chưa quy hoạch lớn theo xu hướng sản xuất công nghiệp, quá trình cơ giới hóa nông nghiệp khó khăn – Do đó lao động nông nghiệp giảm mạnh để chuyển sang làm công nghiệp, dịch vụ cũng có gặp rất nhiều khó khăn. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2010 – 2015) đã đề ra mục tiêu trong thời gian tới: “Lao động qua đào tạo đạt trên 55% tổng số lao động xã hội, 80% lao động nông nghiệp được tập huấn kỹ thuật. Tạo việc làn và thu hút lao động bình quân 35.000 – 40.000 người/năm; 20% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới”. Đây là một chỉ tiêu rất cao, đòi hỏi phải có sự đầu tư và sự nỗ lực rất lớn. Để đạt được mục tiêu trên và xây dựng được chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo nghề phù hợp nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng và kỹ năng lao động cho nông dân, cần làm tốt một số giải pháp sau đây. Một là, xã cần phối hợp với các nhà khoa học tiến hành điều tra tổng thể điều kiện sinh thái của địa phương, từ đó xác định căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp cho phù hợp, đảm bảo tính lâu dài và phát triển bền vững. Hai là, nâng cao nhận thức cho người nông dân về sự cần thiết phải học nghề và đào tạo nghề. Muốn đạt được sự tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững phải nhanh chóng thay đổi nếp nghĩ, thói quen lao động truyền thống của người nông dân. Vì vậy cần tập trung tuyên truyền giáo dục để người lao động nhận thức sâu sắc rằng: sự thấp kém về trình độ học vấn, về chuyên môn kỹ thuật là nguyên nhân dẫn đến mọi sự đói nghèo và chậm phát triển. Chỉ có nâng cao dân trí, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật ứng với một ngành nghề nhất định mới là cái đảm bảo chắc chắn nhất để tiến tới thoát khỏi đói nghèo, gia tăng cơ hội vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Ba là, xã hội hóa dạy nghề và bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật mới cho người lao động với nhiều hình thức đa dạng phong phú như: đào tạo ngắn hạn, dài hạn, tập trung, không tập trung, tập huấn tại chỗ. Trước mắt cần trang bị cho nông dân trực tiếp sản xuất những kiến thức về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ thực vật, kiến thức về môi trường, về pháp luật, thông tin về thị trường… Đặc biệt đào tạo, bồi dưỡng cho lực lượng trẻ một số nghề tiểu thủ công nghiệp, sửa chữa quản lý máy móc nông nghiệp, chế biến thủy hải sản, rau quả và dịch vụ. Bốn là, xã hội hóa nguồn đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động – Bên cạnh nguồn đầu tư của Nhà nước, của xã, cần huy động nguồn lực trong dân, các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm – Ưu tiên đào tạo nâng cao dân trí và trình độ nghề cho các hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc./.
Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn