Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA V.LÊ-NIN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Tác giả : Th.s Lê Thu Hường - Khoa LL Mác- Lênin, TT Hồ Chí Minh
File đính kèm: Không có

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế tiểu nông chiếm ưu thế; hậu quả của chiến tranh đế quốc, nội chiến cũng như hậu quả của việc thực hiện chính sách cộng sản thời chiến kéo dài quá lâu trong khi tình hình đã thay đổi căn bản; cách quản lý xơ cứng trên cơ sở nền kinh tế phi hàng hóa… Tất cả những điều đó đặt nước Nga đầu những năm 20 của thế kỷ XX rơi vào khủng hoảng chính trị. Chính sách cộng sản thời chiến giống như một chiếc áo cũ mặc đã chật và không còn phù hợp, dễ dàng bóp chết chính quyền Xôviết còn non trẻ. Trước tình hình đó, Lênin cùng Đảng cộng sản (b) Nga quyết định phải có những chủ trương lớn về nhiều mặt và chuyển hướng căn bản tình hình của đất nước. V.I.Lênin đã đưa ra và chỉ đạo thực hiện một chính sách kinh tế mới mà lúc đầu không mấy ai hiểu được, cũng như thấy được giá trị lý luận và thực tiễn của nó. Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin ra đời nhằm đưa nước Nga đi vào con đường “chắc chắn nhất” và “bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội được củng cố”. NEP không những cần thiết cho nước Nga tiểu nông, đói kém đi lên chủ nghĩa xã hội khi đó, mà với ý nghĩa quốc tế và tính thời sự của NEP hiện vẫn đem đến cho thực tiễn nhiều bài học bổ ích để tiến hành đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới ở nước ta, tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về chinh sách kinh tế mới vẫn có ý nghĩa cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Đảng ta nhấn mạnh: “phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng của Lênin về chính sách kinh tế mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước, sáng tạo nhiều hình thức quá độ, những nấc thang trung gian đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội một cách vững chắc”(1). Công cuộc đổi mới ở nước ta đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là một cuộc cách mạng lớn của cả dân tộc ta, mà mỗi bước đi của nó là một sự tìm kiếm và khám phá mới mẻ. NEP và với những tư tưởng cơ bản của Lênin về NEP đã được chúng ta vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta. Với tư cách là cơ sở lý luận về con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, NEP đã đem lại cho chúng ta tư tưởng về con đường quá độ đặc biệt - quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế tiểu nông, sản xuất hàng hoá nhỏ. Tư tưởng của V.I.Lênin về con đường quá độ đặc biệt lên chủ nghĩa xã hội đó trở thành cơ sở lý luận xuất phát và phương pháp luận của đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở những nước lạc hậu, trong đó có Việt Nam. Với tư tưởng đó, trong bối cảnh công cuộc đổ mới do Đảng ta khởi xưởng trong Đại hội VI, nhằm đưa đất nước thoát ra khủng hoảng và tình trạng nghèo nàn về kinh tế do bị chiến tranh và tàn dư của xã hội cũ để lại, chúng ta đã nhận ra được những thiếu sót, khuyết điểm: nôn nóng, chủ quan, duy ý chí của chủ trương “tiến nhanh, tiến thẳng” lên chủ nghĩa xã hội. Chiến lược phát triển kinh tế những năm đổi mới là tập trung vào ba chiến lược: lương thực, thực phẩm - hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đó là một chiến lược hết sức đúng đắn. Bởi vì nước ta khi đó là một nước tiểu nông và kém phát triển, do đó tiến lên chủ nghĩa xã hội chúng ta không thể không đặt ra chiến lược đó. Tuy nhiên để có được nhận thức đó chúng ta cũng đã từng bị trả giá do biện pháp và bước đi quá vội vàng, chúng ta tiến hành hợp tác hoá và xây dựng hợp tác xã bậc cao, bất chấp quy luật phát triển khách quan của nó, do vậy, kết quả mang lại đã không được như ý muốn. Chúng ta đã không quan tâm đến hình thức sản xuất nhỏ của sản xuất nông nghiệp và có lẽ là không đánh giá đúng luận điểm quan trọng của V.I.Lênin trong NEP- luận điểm về tính không khả thi của việc chuyển nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa bằng cách ban bố những sắc lệnh từ trên xuống. Hậu quả là làm cho nông nghiệp không những không phát triển mà còn làm mất lòng tin của người nông dân vào con đường làm ăn tập thể. Điều này không chỉ diễn ra ở trong nông nghiệp mà còn tương tự diễn ra ở trong tất cả lĩnh vực sản xuất khác. Thực tế đó cho thấy, chúng ta không thể giải quyết những vấn đề cấp bách trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế bằng các chủ trương, biện pháp dựa trên tư duy kinh tế cũ, mang tính bị động đối phó với tình hình. Bởi đó, đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế, là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là bước chuyển có ý nghĩa cách mạng, đặt đúng vị trí và tầm vóc của cái tất yếu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó chính là cách thức và bước đi phù hợp để chúng ta có thể “rút ngắn” con đường lên chủ nghĩa xã hội một cách gián tiếp và bỏ qua chủ nghĩa tư bản. Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, việc tổng kết kinh nghiệm và học tập lý luận của nước ngoài là một việc rất quan trọng. Nước ta, do chiến tranh tàn phá, nên đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền xuất phát rất thấp, vì vậy muốn phát triển kinh tế, chúng ta cần tập trung vào phát triển khoa học và công nghệ - phương tiện để chúng ta có thể xây dung nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, chúng ta cần có cái nhìn đúng đắn về thực tiễn để có lý luận soi sáng con đường mà chúng ta đang đi. Nhưng tập trung vào khoa học và công nghệ thì tốn rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Đảng ta cũng đã xác định, chúng ta cần phải “đi tắt đón đầu”, đứng trên vai người khổng lồ để phát triển. Tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về NEP và quan niệm của ông về việc thực hiện NEP trên thực tế là một trong những cơ sở lý luận của đường lối đổi mới ở nướn ta hiện nay. Đường lối đổi mới đó cho phép chúng ta có thể hình dung ngày càng sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước tiểu nông, sản xuất hàng hoá nhỏ và làm rõ hơn những mô hình cụ thể trong trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử lâu dài, là thời kỳ diễn ra những cải biến cách mạng sâu sắc và toàn diện, đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi thích hợp trải qua những khâu trung gian, quá độ khác nhau. Từ 1986 đến nay, trải qua 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, chúng ta đã có dịp ngồi lại và nhìn về những gì chúng ta được và chưa được. Đồng thời, đề ra phương hướng chung đẩy mạnh công cuộc đổi mới ở nước ta trong thời gian tới là: “Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Phát triển nhanh, hài hoà các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã. Khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch”.(2) Do đó, NEP và những tư tưởng cơ bản của Lênin về việc thực hiện NEP vẫn là nền tảng cơ sở lý luận về con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Khi NEP ra đời và thực thi ở Nga vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX bước đầu thu được kết quả thì cả về mặt lý luận và thực tiễn, NEP trở thành cơ sở lý luận cho các nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhưng việc vận dụng NEP vào hoàn cảnh cụ thể ở mỗi nước là khác nhau và khác so với Nga sau nội chiến 1920. Đối với Việt nam, có thể thấy, bối cảnh của nước ta thực hiện đổi mới với bối cảnh nước Nga thực hiện NEP có nét giống nhau. Ở chỗ, nước ta cũng là nước tiểu nông, đói kém và vừa thoát khỏi chiến tranh. Nhưng cũng có điểm khác nhau căn bản là bối cảnh quốc tế những năm 20 của thế kỷ XX khác hoàn toàn bối cảnh quốc tế của những năm 80 thế kỷ XX. Do đó, khi tiến hành vận dụng NEP vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam chúng ta cần phải vận dụng một cách sáng tạo, chứ không nhất thiết phụ thuộc vào từ ngữ, câu chữ trong đó. Vận dụng NEP phải hướng tới mục tiêu xây dung thành công Chủ nghĩa xã hội, mà một trong những nhiệm vụ cụ thể trước mắt là giải quyết một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và nông dân trong bối cảnh nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ, lạc hậu. Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp nhằm củng cố liên minh kinh tế công nông đã được hình thành từ lâu trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, tạo điều kiện nâng dần mức sống và chất lượng cuộc sống cho người dân. Vận dụng NEP đòi hỏi phải sử dụng đúng đắn các quy luật giá trị, sở hữu, tự do buôn bán và trao đổi hàng hoá, nhìn nhận đúng đắn về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở thiết lập sự điều tiết của nhà nước ở mức độ hợp lý. Từ đó, xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện phát triển đất nước về mọi mặt và một thể chế chính trị đúng đắn, phù hợp không chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định quan điểm vận dụng một cách sáng tạo và phát triển hơn nữa tư tưởng cơ bản của V.I Lênin về chính sách kinh tế mới nhằm mục đích sáng tạo ra nhiều hình thức quá độ, những nấc thang trung gian đa dạng, phù hợp với bối cảnh của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Vận dụng NEP và quan điểm của Lênin về việc thực hiện NEP như vậy thì mới có thể làm cho tư tưởng, lý luận của Lênin nói riêng và của Mác- Ăngghen- Lênin nói chung “sống”. Có thể đưa ra một ví dụ điển hình cho việc vận dụng sáng tạo của Đảng ta chủ nghĩa Mác- Lênin như việc chúng ta cho đảng viên làm kinh tế tư nhân- một điều mà có rất nhiều người cho là không tưởng. Nhưng chính điều đó thể hiện tư duy sáng tạo, nhạy bén với tình hình cụ thể của đất nước cũng như quốc tế. Hay việc mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước. Áp dụng phổ biến các hình thức kinh tế tư nhân, tư bản nhà nước tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi cho các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư, làm ăn lâu dài nhưng kinh tế nhà nước vẫn là chủ đạo cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thành công bước đầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, của đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trên cơ sở vận dụng sáng tạo những tư tưởng cơ bản của V.I Lênin về NEP. NEP hiện vẫn là cơ sở để chúng ta khẳng định tính đúng đắn của sự kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Những tư tưởng đó của V.I Lênin cho thấy rõ, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ biện chứng, có sự tác động qua lại lẫn nhau, là tiền đề, điều kiện của nhau và vì vậy cần có sự kết hợp chặt chẽ, trong đó đổi mới kinh tế phải được coi là trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Những tư tưởng của Lênin là cơ sở để chúng ta khẳng định việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần phải tăng cường vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước. Từ đó, tiến hành, xây dựng, đổi mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức, hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương trên tất cả các phương diện: con người, lãnh đạo, lối làm việc. Vận dụng NEP ở nước ta cần phải nắm rõ những tư tưởng cơ bản của Lênin về NEP, từ chiều sâu của tư duy lý luận triết học - kinh tế của ông và phải được đặt trên cơ sở thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. (1): ĐCSVN: Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Nxb CTQG, HN 1994, tr24. (2): ĐCSVN: Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá XI.
Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn