Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Một số vấn đề về sự thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở nước ta

Tác giả : Bùi Thị Hoa - TK NN&PL
File đính kèm: Không có

Nghị quyết đại hội 10 của Đảng khẳng định: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 NXB chính trị quốc gia, Hà nội, 2006, trang 126)
Như vậy, theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam việc thực hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta dựa trên nguyên tắc tập quyền. Tuy nhiên, tập quyền trong chế độ ta khác hẳn về chất so với phương thức tập quyền trong chế độ Phong kiến. Bởi lẽ, tập quyền trong chế độ Phong kiến là tập trung quyền lực vào một cá nhân - đó là Vua. Tập trung quyền lực nhà nước vào cá nhân (Vua), dễ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ. Hơn nữa. theo quy định của pháp luật Phong kiến, Vua được lên ngôi theo nguyên tắc cha truyền con nối, nhân dân không được toàn quyền trong việc lựa chọn Vua, lịch sử các triều đại phong kiến ở nước ta đã chứng minh điều đó.
Vậy, tại sao trong chế độ ta quyền lực vẫn thực hiện theo nguyên tắc tập quyền, vấn đề tập quyền trong chế độ ta liệu có dẫn đến lạm dụng quyền lực, có độc đoán, chuyên quyền như trong chế độ Phong kiến?
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã từng chứng minh rằng, nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và nhà nước được thành lập bởi ý chí của giai cấp thống trị, nhưng cơ sở xã hội của Nhà nước là nhân dân. V.I.Lê nin trong các bài viết nhiều lần khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo Dân vận viết năm 1949 đã khẳng định: “mọi quyền lực đều ở nơi dân”.
Điều 2 hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Như vậy, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là do nhân dân lập ra và nguồn gốc quyền lực của Nhà nước là từ nhân dân. Nhân dân thông qua chế độ bầu cử: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã tự nguyện trao quyền lực của mình cho các đại biểu Quốc hội và đã tập trung quyền lực của mình vào Quốc hội. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. (Điều 6 hiến pháp năm 1992)
Khác với tập trung quyền lực vào cá nhân như trong chế độ Phong kiến, nguyên tắc tập quyền của chế độ ta là tập trung quyền lực vào một tập thể. Hơn nữa, tập thể này được nhân dân cả nước  lựa chọn những người có đủ tài đức bầu ra theo nhiệm kỳ. Những người đó phải chịu trách nhiệm trước nhân dân cả nước, nếu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm kỷ luật tuỳ theo mức độ có thể bị cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn - tập thể đó chính là Quốc hội. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, tuy quyền lực nhà nước dược thực hiện theo nguyên tắc tập quyền nhưng không sợ có nguy cơ bị lạm dụng quyền lực, hoặc dẫn đến độc đoán chuyên quyền, mất dân chủ. Vấn đề quan trọng được nhiêu người cùng quan tâm, là làm thế nào để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước.
Quyền lực của nhân dân được thống nhất vào Quốc hội nhưng để thực thi quyền lực đó có hiệu quả, Quốc hội thực hiện cơ chế phân công quyền lực. Quốc hội là cơ quan hiến định thống nhất các quyền nhưng không trực tiếp thực thi cả ba quyền, mà tập trung thực hiện quyền lập pháp; Chính phủ là cơ quan hiến định được phân công nắm quyền hành pháp; Toà án, Viện kiểm sát thực thi quyền tư pháp. Sự phân công như vậy là phù hợp bởi vì vẫn đảm bảo quyền lực thống nhất vào Quốc hội. Mặt khác, sự phân công đó cũng rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia luôn ổn định, thống nhất từ trung ương đến cơ sở. Sự phân công rành mạch trong thực hiện quyền lực nhà nước cũng là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện sự giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Vậy, sự phân công quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước ta và sự phân chia quyền lực trong các Nhà nước tư sản có điểm nào khác nhau cơ bản?
Nhà nước ta thực hiện cơ chế phân công quyền lực chứ không phải phân chia quyền lực, quyền lực vẫn thống nhất vào Quốc hội. Bởi vì, tuy có sự phân công thực hiện quyền lực nhưng Thủ tứơng Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ đều do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, những người được Quốc hội bầu hoặc phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Tuỳ tính chất, mức độ vi phạm Quốc hội có quyền bãi miễn những cá nhân đó. Toà án và Viện kiểm sát được phân công thực thi quyền tư pháp nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều do Quốc hội bầu ra  trong số đại biểu quốc hội và Quốc hội có quyền bãi miễn khi xét thấy cần thiết. Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Ở các nước tư sản thực hiện cơ chế phân chia quyền lực, nên không có sự thống nhất này. Theo cơ chế phân chia quyền lực của thuyết “tam quyền phân lập”, thì quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, thông thường nghị viện được phân thành thượng viện và hạ viện có nhiệm kỳ khác nhau; quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và Chính phủ; quyền tư pháp thuộc về Toà án. Ba hệ thống cơ quan này đối trọng với nhau và chế ước lẫn nhau.
Việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta luôn gắn liền với sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chẳng hạn các quyền cơ bản của công dân được cơ quan lập pháp ghi nhận trong hiến pháp, sẽ được cơ quan hành pháp triển khai thực thi trong thực tiễn và được cơ quan tư pháp bảo vệ; Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuy không có quyền ban hành các đạo luật nhưng có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội, có quyển kiến nghị chương trình xây dựng pháp luật hàng năm của Quốc hội…
Tóm lại, việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào, tập quyển hay phân quyền là phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội đương thời. Trong chế độ ta, nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước. Quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của nhân dân chứ không thể phân chia.

Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn