Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Tư tưởng về Đảng cầm quyền trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tác giả : Th.s Nguyễn Thị Chiên - Gv Khoa Triết - CNXHKH
File đính kèm: Không có

Đảng cầm quyền là một vấn đề hết sức hệ trọng của cách mạng. Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh cách mệnh “ trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt…Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.” ( Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995,  tập2, tr267-268 ).  Chính vì lẽ đó, qua quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đã tiếp cận được chân lý của thời đại – đó là ngọn cờ tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Người đã đưa ánh sáng đó trở về Việt Nam, quyết tâm lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo ngọn cờ tư tưởng ấy. Bởi theo Người “ bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, dưới ánh sáng tư tưởng Mác- Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trở thành nhân tố chủ yếu đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Sở dĩ Đảng có vinh dự giữ trọng trách to lớn đó là bởi mục đích của Đảng không có gì khác là “ lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản” ( Sđd tập 3, tr5). Vì vậy, “ Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” ( Sđd, tập 5, tr 249) và “ Đảng ta chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, không còn có lợi ích nào khác”. Do đó Đảng được “dân tin, dân phục, dân yêu”.
Để hoàn thành được sứ mệnh cao cả đó, Đảng phải có được sức mạnh tương ứng. Như chúng ta biết, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ở một nước nông nghiệp lạc hậu, trong bão táp của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và của cả dân tộc, nên sức mạnh của Đảng không phải là sức mạnh của tiềm lực quân sự hùng mạnh hay tiềm năng kinh tế giàu có mà sức mạnh của Đảng lúc này chỉ có thể là sức mạnh ý chí, tinh thần – sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hồ Chí minh chỉ rõ: “Cái sức mạnh vô địch mà ta có thể thắng quân địch giành độc lập thống nhất là sự đoàn kết”, “ Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được hết cả”, “ Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”. Vì vậy, Đảng phải trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết để đoàn kết dân tộc, đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế.
Trong Sách lược vắn tắt của Đảng Hồ chí Minh chỉ rõ: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”.
Để hiện thực hóa tư tưởng đó, làm cho nó có sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức – Mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập và Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc. Quyền lãnh đạo Mặt trận không phải Đảng tự phong cho mình, mà là được nhân dân tự giác thừa nhận. Điều này đã được Hồ Chí Minh phân tích rất cặn kẽ: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” (Sđd, Tập 3, tr.138).
Thực tế cho thấy Đảng đã xác định được chính sách Mặt trận đúng đắn nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu nước rất vẻ vang của dân tộc ta và Đảng cũng đã thể hiện được năng lực lãnh đạo trong thực tế. Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên về công tác Mặt trận: “Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không được tự cao tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người,trái lại phải học hỏi điều hay, điều tốt ở mọi người”
Muốn lãnh đạo Mặt trận, lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết toàn dân, Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Đảng ta là một Đảng lãnh đạo. Tất cả cán bộ và đảng viên dù ở cương vị khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho” ( Sđd, Tập 11 tr154)
Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng và phát huy sức mạnh bên trong của đoàn kết bằng việc xây dựng khối đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân mà còn phải tranh thủ và huy động sức mạnh bên ngoài của đoàn kết bằng chính sách đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế. Nghĩa là, Đảng phải biết cách giải quyết các vấn đề dân tộc theo giá trị và chuẩn mực nhân loại; cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Vì vậy, Hồ Chí Minh trong suốt quá trình ra đi tìm đường cứu nước đã hướng về nhân loại và tìm thấy “hình của nước” trong tấm gương nhân loại. Nhờ vậy Người được nhân loại yêu mến, khâm phục, giúp đỡ.
Như vậy là từ đại đoàn kết dân tộc phải đi đến đại đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở cho việc thực hiện đại đoàn két quốc tế. Đó là bài học của đại đoàn kết vì thế, nó là bài học của đại thành công.
Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta và nhân dân ta rằng: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên ngay từ ngày thành lập đến nay Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Do đó, “phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Khi đã trở thành Đảng cầm quyền – lãnh đạo chính quyền, Đảng có thêm sức mạnh vật chất nữa đó là nhà nước.
Về vấn đề này, ngay từ năm 1925 trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” khi đề cập đến mô hình nhà nước trong tương lai và nhiệm vụ của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công - nông - binh, phát đất cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền… ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành thế giới đại đồng”(Sđd tập 6 tr162). Đến trước khi vĩnh biệt đồng bào, đồng chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (Di chúc). Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các tổ chức đảng và đảng viên: Đảng cầm quyền chứ không phải đảng trị, mọi cán bộ đảng viên của Đảng phải biết tôn trọng nhà nước dân chủ nhân dân, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật của nhà nước.
Nhà nước ta được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam và ở Đông Nam Châu Á, dựa trên nền tảng công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Bản Hiến pháp năm 1946 ở nước ta ra đời là mốc son quan trọng đánh dấu quá trình bắt đầu xây dựng một nhà nước pháp quyền. Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Ngày nay, lịch sử cách mạng Việt Nam đã đổi thay song vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng vẫn không hề thay đổi. Trong xu thế mới của đất nước và thời đại đặt ra cho vai trò lãnh đạo của Đảng những nhiệm vụ mới. Đó là lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đưa đất nước vững bước trên con đường XHCN trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mở cửa. Đây vừa là điều kiện thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng. Hơn lúc nào hết những lời dặn dò của Người về Đảng Cộng sản cầm quyền cần phải được phát huy. Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần dân tộc, Đảng phải là Đảng của một giai cấp biết “tự mình trở thành dân tộc”. Nghĩa là biết đặt lợi ích của toàn dân tộc lên trên hết, biết xây dựng một xã hội dân chủ, pháp quyền. Đồng thời  Đảng phải thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, phải hướng về nhân loại, giải quyết các vấn đề của dân tộc theo giá trị và chuẩn mực nhân loại và phải cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề chung của nhân loại. Thực hiện lời dặn dò của Người, Đảng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, tích cực, chủ động sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Đảng không làm thay các cơ quan nhà nước, bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước.
Điều quan trọng nữa, Đảng lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay là phải ra sức xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết. Muốn vậy, cán bộ Đảng và nhà nước phải là hạt nhân của khối đại đoàn kết đó, phải có “tâm”, có “tầm”, có “trí”, phải nêu gương sáng về đức hy sinh “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chỉ như thế Đảng mới xứng là “đạo đức”, là “văn minh” như kỳ vọng của Bác và sự tin yêu của nhân dân ./.

 

Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn