Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Kết quả và thách thức trong công tác dân số - KHHGĐ ở Nghệ An

Tác giả : Bùi văn Năm - Gv Khoa Triết - CNXHKH
File đính kèm: Không có

Trong những năm qua, công tác dân số - KHHGĐ của tỉnh ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tỉ suất sinh giảm từ 33,84‰ (năm 1990) xuống 18,03‰ (năm 2007), bình quân mỗi năm giảm 1,51‰. Song trong giai đoạn 2001-2005, kết quả thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ (DS – KHHGĐ) đã chững lại và giảm sút. Đáng lưu ý là trong những năm 2003 và 2004 và 6 tháng đầu năm 2008, tỉ lệ gia tăng dân số, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên đã tăng trở lại (tỷ suất sinh 1/4/2003 là 18,19‰ và 1/4/2004 là 18,74‰). Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều ở một số địa phương, gây tác động tiêu cực đến phong trào nhân dân thực hiện KHHGĐ.
  Để khắc phục tình trạng trên, ngày 23 tháng 10 năm 2003, Ban thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành chỉ thị 15 – CT/ TU về  “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác Dân số - KHHGĐ trong tình hình mới” và ban hành Quyết định số 38 – QĐ/TU về việc xử lí đảng viên vi phạm chính sách Ds – KHHGĐ. Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XV tại kỳ họp thứ tư ngày 17/7/2005, ban hành nghị quyết 122 – NQ/HĐND về công tác Dân số - KHHGĐ. Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng chương trình, hành động thực hiện chỉ thị 15 CT/TU với các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, trong đó đã xác định mục tiêu đến năm 2010, phấn đấu đạt mức sinh thay thế và đề ra các giải pháp cơ bản về chính sách Dân số - KKHGĐ trên địa bàn toàn tỉnh.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, HẠN CHẾ VÀ THÁCH THỨC

1. Tỉ lệ tăng dân số tăng nhanh đã được khống chế nhưng quy mô dân số lớn và tiếp tục tăng.
Tỉ lệ tăng dân số trung bình hàng năm giai đoạn 1975 – 1990 là trên 2,25% (cả nước 1,7%). Giai đoạn sau 1990, đặc biệt từ khi  thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách Dân số - KHHGĐ thì tỉ lệ tăng dân số giảm mạnh từ 2,1% năm 1990 xuống còn 1,19% năm 2007, tạo bước ngoặt quyết định khống chế tỉ lệ tăng dân số ở tỉnh ta. Tuy tốc độ tăng dân số đã được khống chế nhưng quy mô vẫn tiếp tục tăng mạnh. Dân số trung bình năm 1990 là 2.498.000 người, đến năm 2007 là 3.101.000 người. Bình quân mỗi năm dân số tăng thêm hơn 35.000 người. Nghệ An là tỉnh đông dân số thứ tư trên cả nước, mật độ dân số năm 2007 lên tới 186 người/ km2. Theo báo cáo của các huyện, thành thị trong 6 tháng đầu năm 2008 số trẻ em sinh ra là 19.809 cháu, tăng hơn so với cùng kỳ là 570 cháu (tăng 2,96%), trong đó số trẻ sinh ra là con thứ ba trở lên là 3.118 cháu, tăng 100 cháu so với cùng kỳ (tăng 3,21%). Ước tính cả năm 2008, số trẻ em sinh ra là 56.000, trong đó con thứ ba là 14.200 cháu.
2. Mức sinh giảm chậm, chưa vững chắc, có sự khác biệt giữa các vùng và còn tiềm ẩn nguy cơ tăng nhanh mức sinh trở lại.
- Giai đoạn 1990 – 2000, tỉ suất sinh giảm mạnh từ 33,84‰ xuống còn 20,4‰ (1/7/2000), bình quân mỗi năm giảm 1,45‰ , đạt giảm mức sinh nhanh.
- Giai đoạn 2002 – 2007 tỉ suất sinh xu hướng tăng trở lại từ 18,1‰ (1/7/2002) lên 21,46‰ (1/4/2005).
Theo báo cáo có 5 huyện không đạt chỉ tiêu giảm sinh con thứ ba trở lên là: thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Đô Lương, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, và trong sáu tháng đầu năm 2008 mức sinh cả tỉnh có xu hướng tăng, năm 2008 khó đạt chỉ tiêu giảm sinh là 0,5‰.
- Có sự khác biệt rõ về mức sinh giữa các vùng địa lý, kinh tế.
Tại vùng miền núi, vùng đồng bằng ven biển và vùng có đồng  bào giáo dân mức sinh và sinh con thứ ba trở lên vẫn đang ở mức cao như: Kỳ Sơn, Quỳnh Lưu, Quế Phong, Tương Dương.
Theo điều tra biến động dân số - KHHGĐ 1/4/2007 tổng tỉ suất sinh của tỉnh là 2,49 con và chỉ có 5 đơn vị đã tiệm cận mức sinh thay thế (2,1 con) là: thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Hưng Nguyên, Anh Sơn, Nam Đàn.
- Mô hình sinh con có sự thay đổi, chuyển từ mô hình sinh sớm sang mô hình sinh muộn. Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (tỉ lệ mắn đẻ) ở nhóm 20 - 24 giảm từ 158‰ (01/4/ 1999) xuống 132,84% (01/4/2007); ở nhóm từ 25 đến 29 tăng từ 135‰ (01/4/1999) lên 147‰ (01/4/2007). Tỉ lệ mắn đẻ ở nhóm tuổi 20 đến 29 cao gấp 1,8 lần so với nhóm tuổi 30 đến 34 và cao gấp 4 lần so với nhóm tuổi 35 đến 39. Mô hình sinh giữa khu vực thành thị và nông thôn có sự khác biệt; thành thị mô hình sinh muộn và tỉ lệ mắn đẻ cao nhất là 116‰ ở nhóm tuổi 25 đến 29. Còn nông thôn là mô hình sinh sớm, tỉ lệ mắn đẻ cao nhất là 150,13‰  ở nhóm tuổi 20 đến 24.
- Tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ tỉnh ta tuy đã giảm từ 36% xuống 27,08% (01/4/2005). Theo điều tra ngày 01/4/2007, cứ 4 phụ nữ sinh con thì có một phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên (chiếm 26,22%. Năm 2007 có 5 huyện có số sinh con thứ 3 tăng hơn nhiều so với năm 2006 là: thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Quỳ Hợp, Đô Lương, Kỳ Sơn). Đáng lưu ý là tình trạng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng đang ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào thực hiện Dân số- KHHGĐ, tạo nên rào cản đối với công tác tuyên truyền, vận động.
3. Tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai đạt mức cao nhưng chưa đảm bảo vững chắc để duy trì mức giảm sinh.
Tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai dao động từ 72,27% (01/4/2004) xuống 70,91% (01/4/2005) và tăng lên 75,95% (01/4/2007), trong đó biện pháp tránh thai hiện đại tăng từ 60,2% (2001) lên 66,76% (2005), 70,76% (2007).
Cơ cấu biện pháp tránh thai tiếp tục được đa dạng hoá, một số biện pháp tránh thai mới như thuốc tiêm tránh thai DMPA, thuốc cấy tránh thai đã được thử nghiệm và đưa vào sử dụng giai đoạn 2001 đến 2005 và đã được triển khai thực hiện trong toàn tỉnh. Từ năm 2005 đến nay hai biện pháp tránh thai hiện đại có tác dụng lâu dài và hiệu quả tránh thai cao là triệt sản và dụng cụ tử cung có xu hướng giảm. Đặc biệt là biện pháp triệt sản đã giảm mạnh (Nếu như bình quân mỗi năm giai đoạn 1996 - 2000 có 3.500 người triệt sản thì giai đoạn 2001 - 2005 chỉ còn 1.250 người và 2006 - 2007 là 650 người triệt sản mỗi năm).
4. Chất lượng dân số từng bước được cải  thiện nhưng còn ở mức độ thấp là yếu tố cản trở sự nghiệp CNH - HĐH.
Một số chỉ tiêu về sức khoẻ bà mẹ trẻ em đạt kết quả khá tốt do những nỗ lực trong chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Tỉ lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi giảm từ 25,35‰ năm 2005 xuống 23,80‰ năm 2007. Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 28,9% năm 2005 xuống còn 25% năm2007.
Tuy chất lượng dân số được cải thiện nhưng các tố chất về thể lực, trí tuệ, tinh thần còn nhiều hạn chế làm cản trở sự phát triển và đặt tỉnh ta trước nguy cơ tụt hậu xa hơn. Số người tàn tật  của tỉnh khá lớn trên 18.000 người, chiếm gần 6% dân số. Tỉ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí lực chiếm 15% dân số và hằng năm vẫn tiếp tục tăng. Tình trạng bệnh tật nhất là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS là rất đáng lo ngại. Theo báo cáo của trung tâm phòng chống HIV/ AIDS trong tháng 7, trong số 4.261 người nhiễm HIV/AIDS thì có 469 người, chiếm 11% (trong đó mại dâm, massage 77, vợ chồng, bạn tình 392). Quan hệ tình dục trước hôn nhân, tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai ở vị thành niên và thanh niên có  xu hướng gia tăng.
5. Cơ cấu dân số có những biến đổi quan trọng, tạo cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế.
Từ năm 2005 dân số tỉnh ta kết thúc giai đoạn cơ cấu dân số trẻ. Tuổi trung bình của dân số tăng từ 20,2 tuổi (năm 1990) lên 23,2 tuổi (năm 2000) và 25,5 tuổi (năm 2005). Tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh từ 32,5% (năm 1999) xuống 25,5 % (năm 2007), làm giảm áp lực đối với giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khoẻ trẻ em. Tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 6,95% (năm 2005) và 7,66% (năm 2006) và dự báo là 9,89% vào (năm 2015) (bước vào ngưỡng cửa cơ cấu dân số già). Từ cơ cấu dân số trẻ với áp lực về giáo dục, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em, chuyển sang “cơ cấu dân số già” với áp lực về chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi cho người già, tạo ra thách thức đối với nền kinh tế. Trong bối cảnh quy mô gia đình ít con và gia đình ít thế hệ ngày càng được chấp nhận đòi hỏi phải triển khai việc chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi phù hợp hơn.
Từ  năm 2007, cơ cấu dân số tỉnh ta đang bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vùng”, dự báo kéo dài 15 năm. Đến năm 2015, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạt cực đại, chiếm tới 64,3% tương ứng 2,2 triệu người trong độ tuổi lao động so với 3,4 triệu dân. Vì vậy, giải quyết việc làm và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào là cơ hội và thách thức gay gắt đối với nền kinh tế tỉnh ta, về dạy nghề, giải quyết thất nghiệp, nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản cấp thiết khác.
Tỉ lệ giới tính khi sinh con có xu hướng tăng từ 106 nam / 100 nữ(1999) lên 107,23 nam/100 nữ (2006) và 107,95 nam/100 nữ (2007), đây cũng là dấu hiệu mất cân bằng giới tính theo hướng thừa nam thiếu nữ trong những năm tới./.

 

Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn