Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Các dấu hiệu của hành vi tham nhũng theo pháp luật Việt Nam

Tác giả : Th.s Võ Thị Thuý Hà - Gv Khoa Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Khái niệm tham nhũng luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Do vậy, tệ nạn tham nhũng diễn ra ở khắp các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và ở tất cả các lĩnh vực.Tham nhũng là biểu hiện sự tha hoá trong sử dụng quyền lực nhà nước. Nhà tư tưởng Montsquieue đã khẳng định: “mọi người có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng quyền lực đó”. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm: “chống bệnh quan liêu tham ô, lãng phí” đã chỉ ra: “Tham ô, lãng phí và quan liêu dù cố ý hay không cũng là bọn đồng minh của thực dân phong kiến” “ Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và nhân dân” “Trộm cắp tiền bạc của nhân dân, làm tổn hại kinh tế của Chính phủ cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hại hơn.”
    ở nước ta hiện nay, tham nhũng đang là một quốc nạn, được coi là một căn bệnh nguy hiểm, là mối đe doạ đối với toàn xã hội. Tham nhũng làm suy kiệt nền kinh tế của đất nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ, là một thách thức to lớn đối với hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật ở nước ta, do vậy phải đấu tranh để ngăn chặn loại tội phạm này. Để công cuộc đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả cần xác định đúng các dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng để có biện pháp phòng ngừa và định ra các chế tài xử phạt thích đáng. Điều1, Luật phòng, chống tham nhũng được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua xác định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi”
    Các hành vi tham nhũng được qui định cụ thể trong Luật phòng, chống tham nhũng và cũng được qui định thành các tội phạm hình sự ở các điều 278, 279, 280, 281, 282, 283 và 284 của bộ Luật hình sự năm 1999.
    Từ các qui định về tội phạm tham nhũng trong bộ Luật hình sự và luật phòng, chống tham nhũng thì hành vi tham nhũng có các dấu hiệu sau:
  1.  Tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn
      Người có chức vụ quyền hạn được hiểu là những người giữ những vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước hoặc những người mà pháp luật qui định  cho họ những quyền hạn nhất định như: quyền quản lý vật tư, tài sản, cấp phát ngân sách, quản lý nhân sự, quyền cấp và thu hồi các loại giấy phép …cũng có thể đó không phải là cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước nhưng được nhà nước uỷ quyền hoặc trao quyền thực hiện một nhiệm vụ hoặc công vụ trong thời gian nhất định .
     Bộ Luật hình sự năm 1999 qui định:  “Người có chức vụ …là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác có hưởng l¬ương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”(điều 227)
     Luật phòng chống tham nhũng 2005 đưa ra định nghĩa như sau:
    “ Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm :
      Cán bộ, công chức, viên chức;
      Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn -  kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
    Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp ;
    Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
     Như vậy, yếu tố quyền lực là dấu hiệu đặc trưng đầu tiên và cũng là đặc trưng cơ bản nhất của hành vi tham nhũng. ở nước ta quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước do nhân dân bầu ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, một số người đã coi đó như là quyền lực riêng của mình để thực hiện hành vi tham nhũng nhằm thu lợi riêng. Vì thế hành vi tham nhũng luôn là hành vi của những người có quyền lực. Điều này, để phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác cũng là hành vi chiếm đoạt tài sản, tiền bạc nhưng không phải là hành vi tham nhũng vì được thực hiện bởi những người không có chức vụ, quyền hạn như hành vi trộm cắp, cướp giật, lừa đảo.
     2. Khi thực hiện hành vi tham nhũng thì ngư¬ời có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội 
     Không phải khi nào người có chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật cũng đều do sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm. Ng¬ười có chức vụ quyền hạn có thể có hành vi vi phạm pháp luật nhưng không phải do lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì hành vi đó không phải là hành vi tham nhũng. Ví dụ, cán bộ, công chức có hành vi trộm cắp tài sản riêng thì giữa hành vi trộm cắp và chức vụ, quyền hạn của người đó không có mối liên hệ gì với nhau.
   Ngân hàng thế giới đã định nghĩa về tham nhũng là “Sự lạm dụng chức vụ công để tư lợi”. OECD (cơ quan hợp tác và phát triển kinh tế) cũng định nghĩa tham nhũng là “sự lạm dụng chức vụ, vai trò và nguồn lực công để trục lợi cá nhân”. Tổ chức minh bạch quốc tế - một tổ chức phi chính phủ đi đầu trong nỗ lực chống tham nhũng toàn cầu cho rằng “Tham nhũng bao gồm hành vi vi phạm của công chức trong khu vực công, dù là chính trị gia hay công chức dân sự, trong đó họ làm giàu một cách không đúng đắn hoặc bất hợp pháp cho bản thân hay cho ng¬ười thân của mình bằng cách lạm dụng quyền lực công đã giao cho họ”. Ngân hàng phát triển châu á định nghĩa: “Tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ công hoặc tư để tư lợi”.
     Như vậy, yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm pháp luật là một đặc trưng của hành vi tham nhũng.
    Theo pháp luật Việt Nam việc lợi dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạp pháp luật không nhất thiết là hành vi vi phạm do họ thực hiện liên quan trực tiếp đến chức vụ quyền hạn đó mà bao gồm cả việc lợi dụng ảnh hưởng của chức vụ quyền hạn hay vị trí công tác để thực hiện.
  Nghị định số 64 /1998 /NĐ - CP ngày 17/8/1998 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chống tham nhũng giải thích “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là việc người  có chức vụ, quyền hạn sử dụng vị trí công tác, quan hệ công tác, danh nghĩa cơ quan, tổ chức mình hoặc sử dụng vị trí công tác, ảnh hưởng của người có chức vụ, quyền hạn để thu lợi bất chính hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật.
    Can thiệp trái pháp luật là việc làm của người có chức vụ quyền hạn để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi xem xét, giải quyết lợi ích cho mình hoặc cho người  khác…”
3 . Hành vi tham nhũng phải có động cơ vụ lợi, nhằm “thu lợi bất chính”
Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn mà pháp luật trao cho mình để mang lại những lợi ích có tính chất cá nhân - đây là một dấu hiệu đặc trưng nữa của hành vi tham nhũng. Người có chức vụ quyền hạn đã hành động không xuất phát từ nhu cầu công việc mà vì những lợi ích của riêng mình như nhận tiền hoặc tài sản hoặc một lợi ích phi vật chất nào đó. Mục đích vụ lợi còn được hiểu là đã dùng ảnh hưởng của mình để mang lại lợi ích cho người thân. Luật phòng, chống tham nhũng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/ 11/ năm 2005 qui định “Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng”
Nghị định số 64/1998/NĐ/CP ngày 17/ 8/ 1998 qui định “thu lợi bất chính là những lợi ích vật chất thu được từ việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình hoặc lợi dụng ảnh hưởng của người khác”
Tóm lại, một hành vi được coi là tham nhũng phải có yếu tố lợi ích có thể là lợi ích vật chất hoặc là lợi ích tinh thần như qui định của luật phòng, chống tham nhũng.
     Theo luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 thì “Vụ lợi là lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng”
     Từ thực tiễn cuộc đấu tranh chống tham nhũng và từ những dấu hiệu của hành vi tham nhũng luật phòng, chống tham nhũng  năm 2005 đã qui định các hành vi sau là hành vi tham nhũng
1. Tham ô tài sản.
2. Nhận hối lộ
3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
5.  Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.
7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi
8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương để vụ lợi.
9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của nhà nước vì vụ lợi.
10.  Nhũng nhiễu vì vụ lợi
11.  Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi
12.  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
     Để phòng và chống tham nhũng đòi hỏi phải có nhiều biện pháp  mang tính đồng bộ, song pháp luật vẫn giữ vai trò chủ đạo, tạo khuôn khổ pháp lý nhằm phòng ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng và có các chế tài thích hợp đối với người có hành vi tham nhũng. Vì thế để phòng ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng phải tiếp tục hoàn thiện các văn bản, các qui định trực tiếp liên quan đến tội phạm tham nhũng. Thông qua các dấu hiệu đặc trưng  của hành vi  tham nhũng để làm căn cứ xác định một cách cụ thể, rõ ràng về loại tội phạm này trong các văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng ./.

 

 

 

 

 

 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn